Ai về Hà Tĩnh – Phần 1

Hà Tĩnh tuy diện tích không rộng lắm, nhưng có đủ các dạng địa hình: rừng núi cao, gò đồi, đồng bằng trung du và 137 km bờ biển với những bãi cát trắng sạch mịn, làn nước trong xanh. Mỗi vùng đều có những tiềm năng, thế mạnh riêng cả về kinh tế, văn hóa và du lịch.
Công cuộc giữ nước đã để lại trên địa bàn tỉnh hàng chục thành quách đồ sộ, nhất là bức lũy cổ được đắp ghép từ thế kỷ thứ 4 trên dãy Hoành Sơn. Dãy Trường Sơn ở phía tây Hà Tĩnh cao vút phủ rừng đại ngàn với nhiều loại chim muông và thú quý; động, thực vật phong phú về giống và loài. Các con suối con sông, có độ dốc cao dòng chảy mạnh, nước trong vắt và lòng suối có nhiều đá cuội. Đặc biệt núi Hồng Lĩnh 99 ngọn như bức trường thành, nơi đây có trên 100 ngôi đền, chùa, miếu và dòng sông La hiền hòa là điểm hội tụ của Ngàn Phố – Ngàn Sâu, hai khúc hát trữ tình gặp nhau ở bến Tam Soa.
Toàn tỉnh Hà Tĩnh hiện có 259 di tích, trong đó có 53 di tích đã được xếp hạng và trên 20 điểm có thể khai thác du lịch rất tốt. mỗi vùng, mỗi địa danh ở miền quê này đều mang 1 vẻ đẹp riêng, sẽ lưu lại cho du khách những ấn tượng sâu sắc về quê hương và con người của cố đô Việt thường.
Từ phương Bắc vào Hà Tĩnh, vùng đất đầu tiên mà bạn đặt chân đến là mảnh đất Nghi Xuân, nơi có Núi Hồng soi bong xuống dòng La trong xanh và nuôi dưỡng tâm hồn đại thi hào Nguyễn Du. Ngày nay ở đây còn lưu lại cả quần thể di tích của dònh họ Nguyễn Tiên Điền từ nhà thờ, nhà tư văn, vườn lưu niệm là nơi các bậc khoa bảng từng bình văn hàng trăm năm về trước, đến ngôi mộ cụ Nguyễn Tiên Sinh. Trong tương lai các dự án về đầu tư, tôn tạo thực thi, thì khu di tích này sẽ ngang tầm với tên tuổi của Đại thi hào, cũng như nhà thờ, bia đá, phong cảnh nước non… để làm sống lại những câu thơ xưa. Cạnh đó bến Giang Đình nhìn ra cửa bể là quê hương và nơi an nghỉ cuối cùng của nhà thơ lớn, nhà kinh tế Nguyễn Công Trứ. Nơi đây vẫn còn cả di tích nhà thờ, lăng mộ của thân sinh Nguyễn Công Trứ mộ phần của ông .
Đi về hướng Đông – Nam chừng 14 km , du khách sẽ đến được một vùng biển phẳng mịn, dịu êm, làn nứơc trong xanh cùng những rặng phi lao xanh tốt. Đó là Xuân Thành – vùng đất có những bãi tắm làm nao lòng người, cũng như đặc săn biển thật khó quên cho ai đó đãmột lần thưởng thức.
Đến với quần thể di tích sông La – núi Hồng khách du lịch còn có dịp được vãn cảnh đến chợ Củi, một ngôi đền rất linh thiêng mà hiện tại còn lưu giữ được những nét độc đáo, những kỉ vật quí và là ngôi đền Mẫu đệp nhất Hà Tĩnh. Hàng năm, đền Chợ Củi đón hàng vạn lượt khách đến dâng hương lễ hội, cầu lộc cầu tài. Từ Nghi Xuân xuôi vào Nam, du khách hay dừng chân trên quê hương Can Lộc, nơi có chùa Hương Tích, chùa thuộc xã Thiên Lộc, đuợc xây dựng từ thế kỷ XIV đời nhà Trần trên ngon núi cao và đẹp nhất của dãy Ngàn Hồng.
Thúy Trân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 10(175)2001

Thành viên của chi hội Pata Việt Nam

Công ty Du lịch Dịch vụ dầu khí Việt Nam (OSC VIET NAM) là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng cục du lịch được thành lập ngày 23/6/1977.
Sau hơn 23 năm đi vào hoạt động kinh doanh, OSC VIET NAM không ngừng phát triển cả về quy mô cũng như phạm vi hoạt động, kinh doanh trên các lĩnh vực chính; du lịch, dịch vụ dầu khí lắp, xây lắp, xuất nhập khẩu, xuất khẩu lao động có thời hạn, với trên 15 ngành nghề khác nhau. OSC VIET NAM, ngoài trụ sở chính ở thành phố Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) còn có chi nhánh ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay OSC VIET NAM có 11 đơn vị trực thuộc, 7 đơn vị liên doanh với nước ngoài, 1 công ty cổ phần . Tổng giá trị tài sản của các sơn vị trực thuộc OSC VIET NAM là hơn 100 tỷ đồng, gồm 12 khách sạn (trong đó có 4 khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao, 5 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao), 1 khu căn hộ cao cấp, 36 biệt thự với tổng cộng gần 1.000 phòng ngủ và nhiều thiết bị chuyên dụng hiện đại cùng các kho tàng bãi khác. 7 dự án đầu tư nước ngoài liên doanh với OSC VIET NAM có tổng số vốn lên tới 60 triệu USD, vốn pháp định 25 triệu USD trong đó OSC VIET NAM góp 25,3% tương đương 6,3 triệu USD, hoạt động trên các lĩnh vực: Dịch vụ, y tế, công nghiệp…
Năm 2000, OSC VIET NAM đã đẩy mạnh tiếp thị trên các lĩnh vực kinh doanh và mở thêm nhiều loại hình dịch vụ nên đã mang lại hiệu quả kinh doanh dịch vụ dầu khí, kinh doanh khách sạn, xây dựng, hàng hóa… Các cơ sở lưu trú của OSC VIET NAM đã phục vụ 98.011 lượt khách với 167.364 ngày khách, trong đó có 23.065 lượt khách quốc tế với 70.363 ngày khách; công suất buồng giường đạt 5,03% so với năm 1999. Trong kinh doanh lữ hành, OSC VIET NAM đã khai thác được 61.130 lượt khách quốc tế. OSC Travel – đơn vị liên doanh của OSC VIET NAM chuyên kinh doanh lữ hành quốc tế luôn đạt hiệu quả cao và là một trong những đơn vị Top Ten lữ hành quốc tế năm 1999 và 2000. Năm 2000 là năm OSC VIET NAM hoàn thành tốt chỉ tiêu kế hoạch của Tổng cục Du lịch giao, với việc thực hiện tổng doanh thu 365 tỷ đồng (tăng 17,17% so với kế hoạch); trong đó, khối trực thuộc thực hiện được 193 tỷ, nộp vào ngân sách Nhà nước 32,2 tỷ đồng chưa tính thuế xuất khẩu nhập khẩu (các đơn vị trực thuộc nộp 22,2 tỷ đồng) tăng 28,75% kế hoạch. Cùng 12,6 tỷ đồng lợi nhuận, Công ty còn giải quyết việc làm gần 2000 lao động với mức thu nhập bình quân 1.00.000 đồng/người/tháng.
Không chỉ thực hiện tốt các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, nhiều năm qua, OSC VIET NAM còn thực hiện tốt các chính sách, phong trào xã hội tại địa phương như: phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam Anh Hùng, tài trợ cho các trại trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật, tài trợ cho các trường mẫu giáo, xây dựng nhà tình nghĩa,… Với những thành quả của quá trình phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, OSC VIET NAM đã được nhà nước trao tặng nhiều huân chương, huy chương cao quý.
Là thành viên của Chi hội PATA từ tháng 12 năm 1994, OSC VIET NAM không ngừng phát huy thế mạnh của mình, mở rộng thị trường của mình thu hút khách, tạo dựng vị thế và uy tín của công ty trên thị trường trong và ngoài nước, đồng thời góp phần xây dựng Chi hội PATA Việt Nam ngày càng vững mạnh., xây dựng ngành du lịch Việt Nam xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn, đủ thế và lực hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Mạnh Hùng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 7(172)2001

Trường Trung học nghiệp vụ du lịch Hà Nội

Trường Trung học nghiệp vụ du lịch Hà Nội không ngừng nâng cao quy mô đào tạo
Sau khi nâng cấp và bổ sung cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo, kể từ năm 1998 – 1999 đến nay, Trường Trung học nghiệp vụ du lịch Hà Nội đã luôn mở rộng quy mô đào tạo, số học sinh tuyển mới điều tăng hàng năm. Năm học 1998 – 1999, nhà trường tuyển được 1.100 học sinh, con số đó tăng lên 1.460 học sinh vào năm học 1999 -2000, và 1.673 học sinh vào năm 2000 – 2001. Ngoài ra số học sinh chính khóa, năm học 2000 – 2001, Nhà trường đã tuyển thêm 191 học sinh theo chương trình của Luxembourg, đưa tổng số theo học trường hiện nay là 2.671 học sinh (kể cả học sinh năm thứ 2).
Năm 2000 Trường Trung học – nghiệp vụ du lịch Hà Nội đã tổ chức nhiều hoạt động nghiệp vụ như: Hội thi giáo viên dạy giỏi và đăng cai Hội thi giáo viên dạy giỏi toàn quốc, đưa 1.200 học sinh đi thực tập tại các doanh nghiệp… Nhà trường đã phối hợp với các Sở Du lịch, các doanh nghiệp tổ chức thành công các lớp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ tại các địa phương, với tổng số 981 học sinh. Đào tạo giúp ngành Du lịch Campuchia 2 khóa bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý du lịch với hơn 30 học viên.
Trường Trung học nghiệp vụ Du lịch Hà Nội đã quyết định kế hoạch công tác năm 2002: Làm tốt công tác tuyển sinh mới vào các lớp chính khóa trong năm học 2001 – 2002; chuẩn bị kỳ thi tốt nghiệp năm 2001 để đạt 100% số học sinh dự tốt nghiệp với kết quả cao, tiếp tục xúc tiến việc nâng cấp để trở thành Trường cao đẳng Nghiệp vụ Du lịch Việt Nam; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác đào tạo của Nhà Trường, đổi mới, hoàn thiện chương trình giảng dạy, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên.
Tháng 1/2001 xuất khẩu tăng 0,5%, nhập khẩu tăng 8,7%
Tháng 1/2001, kim ngạch xuất khẩu của cả nước tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu dầu thô tăng 14,5% về số lượng và tăng 37,8% về giá trị, hang thủy sản tăng 54,9%, điện tử – máy tính tăng 22,8% , hang thủ công mỹ nghệ tăng 13,6%, rau quả tăng 9,1% … Đặc biệt, xuất khẩu giày dép giảm 31%, cà phê giảm 18,4% về số lượng giảm 61,3% về giá trị…
Tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước, so với khu vực kinh tế trong nước 12,9%. Đạt mức tăng nhập khẩu cao nhất là phân Urê với 120.000 tấn, trị giá 15 triệu USD, tăng 60% về số lượng và gấp 2,14 lần về giá trị; xe máy lắp ráp 150.000 bộ, trị giá 51 triệu USD, tăng 2,17 lần về số lượng và 27,5% về giá trị.
Vấn đề quan tâm nhất trình xuất, nhập khẩu hiện nay là vẫn bế tắc về xuất khẩu hàng nông sản về nhập khẩu ô tô, xe máy.
Khai thác tuyến cáp viễn thông quốc tế 7.000 km
Việt Nam bắt đầu khai thác cáp Viễn thông đất liền đầu tiên dàu 7.000 km nối giữa Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Malaysia và Singapore. Đây là tuyến cáp quan quốc tế thứ 3 vào Việt Nam. Trước đó, có tuyến cáp quang biển TVH (Thái Lan – Việt Nam – Hồng Kông) và tuyến cáp quang biển SEA-ME-WE 3 với sự tham gia của 34 nước ở Châu u, Á và Mỹ. Tuyến cáp quang này có đoạn cáp đi qua Việt Nam dài khoản 600km.

Tiến Hào – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 7(172)2001

Khúc đồng giao tre lá – Phần 2

Mấy năm gần đây muốn có được những tấm lá trắng muốt để chằm nón thật không dễ dàng như nhiều năm trước. Anh Huỳnh Văn Nhị, một cán bộ ở Ủy ban Nhân dân huyện Hoài Ân – địa phương có nguồn lá nón phong phú nhất ở Bình Định cho biết: “Những người đi chặt lá ké, lá nón thường là dân của các làng nón. Những năm trước rừng lá còn rất rậm, không ai có thể nghĩ rằng lại có lúc không còn tìm thấy lá trắng ở n Phong, n Tường… vậy mà nay điều ấy đã xảy ra, rừng Hoài n bị phá nhanh quá, cây lá trắng cũng bị chặt vô tội vạ. Lá làm nón được khai thác phải là loại còn nguyên búp, thớ lá cong trắng tinh nõn nà, mấy năm dân Tây Nguyên ùn ùn trồng cà phê, cao su, lá trắng bị chặt phá quá cỡ, cây không kíp lớn nên quặt quẹo rồi chết hàng loạt. Bây giờ muốn chặt lá phải đi vào tận trong rừng sâu ở n Nghĩa, Đakmang, BokTới mới có. Ở đây rừng lá nón, lá ké nằm xen giữa những truôn mây mịt mùng, dưới những tán lá rừng đại ngàn hùng vĩ. Người chặt lá bị thương trong lúc bạn bè thì đi bứt mây không co người tiếp cứu, bị rắn cắn chết khi đang ngủ trên võng không phải là hiếm. Mà dẫu có thì khiêng ra khỏi rừng sâu cũng không kịp, không ít người đã vĩnh viễn ở lại với rừng sâu”.
Sau trận lũ khủng khiếp ở Hoài n xảy ra hồi cuối tháng 11/1999, dường như người ta đã bắt đầu ý thức rằng cái giá phải trả khi bội bạc với thiên nhiên là vô cùng đắt. Trên những đồi lá trắng, trên những vạt rừng thưa Hoài n mới ngày nào còn mênh mông những bụi lá giờ đây nham nhở những đường xâm thực, phô lên sắc đỏ của đất đồi khắc nghiệt. làng nón rồi sẽ phải long đong vì thiếu nguyên liệu. Rồi có còn không những chiếc nón ngựa Gò Găng?
Cùng mua sắm lều trại du lịch
Hiện nay, các cửa hàng cho thuê lều trại du lịch xuất hiện khá nhiều. Lều cho thuê đủ kích cỡ, chủng loại, từ 8 – 30 người/ lều. Chất liệu bằng vải bạt và dù. Lều trong nước sản xuất có kích thước cho nhiều người thì chưa có nhiều mà phải là hàng nhập, giá khoảng 140 USD cho một lều 22 chỗ. Lều trại có diện tích từ 5 – 25m2 phù hợp với chuyến píc níc của gia đình hay tập thể. Nó có thể che mua nắng, chống rắn rết và muỗi. Lều sản xuất tại Hà Nội được cho thuê với giá 30.000 đông/ ngày, hàng ngoại diện tích lớn hơn, giá khoảng 90.000 đồng/ ngày. Bạn thuê nhiều, các cửa hàng thường giảm giá hay cho thuê miễn phí một lều ăn 5m2 và không phải đặt tiền mà chỉ đặt bằng lái xe hay chứng minh thư. Lều trại thường được bán tại các cửa hàng lớn, giá từ 350.000 đến hơn 2 triệu đồng. Bạn muốn tìm thuê có thể đến một vài địa chỉ như: đường Nguyễn Chí Thanh – Đống Đa, đường Đại Mỗ – TX. Hà Đông, Thị trấn Yên Viên…
Bá Phùng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.

Khúc đồng giao tre lá – Phần 1

Nghề chằm nón tồn tại ở rất nhiều địa phương của mọi miền đất nước nhưng nón ngựa thì chỉ có ở làng Phú Gia (Bình Định).
Thứ nón đẹp như một tác phẩm nghệ thuật độc đáo này, ngày xưa chỉ những nhà giàu, quan lại mới đủ khả năng mua dùng. Những người già trong làng nón Phú Gia (Cát Tường, Phù Cát, Bình Định) kể rằng: Ngày xưa có lệ cứ đến kỳ cuối năm, làng nón lại tổ chức một kíp thợ tài hoa, chọn vật liệu làm hàng trăm chiếc nón dành riêng tiếng vua. Thời nhà Nguyễn, loại nón tiến thường được vua dành riêng để ban thưởng cho phi tần và một số quan lại có công. Ông Phan Thành Diêu, một nghệ nhân chuyên làm nón ở Hòa Dõng (Phù Cát) cho biết: “Gọi nón Gò Găng là nới theo tên địa phương bán nón, chứ thật ra nơi sản xuất là Cát Tân và Cát Tường, nón làm xong thường được người ta tập trung về chợ Gò Găng gần quốc lộ để bán, lâu này “chết” tên luôn. Nón Gò Găng có hai loại: nón ngựa và nón lá. Nón lá được sản xuất hàng loạt, quy trình kỹ thuật hầu như không khác với nón Huế, nón Quảng nhưng được cái nhẹ và bền hơn. Vì thế, dù hiện nay chiếc nón không còn giữ được vị trí như xưa nữa, nhưng nón lá Gò Găng làm ra bao nhiêu vẫn cứ bán hết bấy nhiêu, chỉ có điều giá ăn hàng không được cao, bình quân chỉ được 5.000 – 10.000 đồng/ cái. Nón ngựa thì công phu hơn, và hầu như chỉ những nghệ nhân lão luyện ở Phú Gia mới làm được. Những năm gần đây, loại nón này chủ yếu bán cho những ai muốn tìm lại nét xưa, cho khách du lịch và sản xuất theo hợp đồng của thương lái, chứ không ai làm sẵn như nón lá, vì giá nón ngựa khá cao tới 40.000 – 50.000 đồng/ cái…”.
Trên đường tìm đến làng nón, ấn tượng đập vào mắt tôi là không khí nhộn nhịp khắp các nẻo đường làng hầu như nơi nào cũng có người chẻ lá, chuốt nan, chằm nón dưới bóng mát của những lũy tre, dưới gốc xoài, gốc đào. Ông tám, một nghệ nhân chuyên làm nón ngựa ở Phú Gia – Cát Tường kể: “Dạo trước, một người Nhật tên là Todo Yashimoto đến đây quay phim về nghề chằm nón, quan sát tôi kết nan, lợp nón ông cứ tâm tắc – cứ như một điệu múa của tre trúc và lá cỏ. Ông này cũng như nhiều du khách khác thường tỏ ra thích thú khi biết rằng ngày xưa quân đội Tây Sơn của Hoàng đế Quang Trung cũng từng dùng thứ nón gần như thế này. Nón ngựa Gò Găng đẹp và độc đáo từ cách chế tạo đến các họa tiết trang trí sẽ hiện dần lên. Lợp xong chiếc nón ngựa vừa ý, đôi lúc chỉ muốn tìm được người có dáng vẻ thanh nhã mà tặng thôi. Thứ nón này ngó thì dày, và có vẻ nặng nhưng khi đội lên thì thấy mát và nhẹ lắm.”
Nón lá và nón ngựa Gò Găng ban đầu chỉ là những vật dụng rất bình thường trong cuộc sống. Thăng trầm lịch sử, xã hội đã làm giảm đi của nó một vài giá trị ở lĩnh vực này nhưng cũng làm phát sinh những giá trị mới ở các lĩnh vực khác. Chủ đại lý nón T.H ở Đập Đá cho biết: “Vài năm trước, nón lá kè của Bình Định được bán vào thành phố Hồ Chí Minh để họ xuất sang Indonesia, malaixia… dùng làm mái che co cây cao su con, mỗi lần xuất cả xe chừng 20.000 – 30.000 cái. Dạo ấy người làm nón sống khá lắm, bình quân thu nhập 15.000 – 20.000 đồng/ ngày là thường. Gần đây nông dân trên Tây Nguyên cũng xuống đặt nón cỡ nhỏ, chất lượng vừa phải để về che cà phê, cao su con”.
Bá Phùng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.

Lại nói về Hội An

Hội An, di sản văn hóa được UNESCO công nhận đã là một đề tài của rất nhiều bài báo, nhiều phóng sự truyền hình ghi nhận những cố gắng lớn lao và những nét đẹp thuần phát của những đô thị cổ này. Người dân Hội An và nhân dân tỉnh Quảng Nam tự hào về quê hương mình đã có một Hội An, một điểm sáng về văn hóa được cả nước và thế giới biết đến. Quả thực là chỉ trong một thời gian ngắn từ cuối năm 1999 đến cuối năm 2000, Đảng bộ và nhân dân Hội An đã đón nhận được những danh hiệu cao quý cả trong nước và trên thế giới.
Tôi nhớ là trước cơn lũ lịch sử cuối năm 1999 hơn 48 giờ. Hội An đón nhận danh hiệu di sản văn hóa tổ chức UNESCO. Hồi đó Hội An chưa kịp vui niềm vui trọn vẹn thì đã phải gồng mình lên chống chọi với lũ lụt và cũng đã đạt được một thành tích xuất sắc không thể xảy ra chết người và bảo vệ được các di tích cổ không bị nước lũ tàn phá. Rồi đến năm năm 2000 đã gây một ấn tượng mạnh đối với nhân dân thị xã và đối với các khách mời, khách du lịch Á, u. Vào giữa năm Hội An lại đón nhận danh hiệu anh hùng lao động vào tháng tháng 10 năm 2000 lại được Tổ chức bảo vệ di sản thế giới tặng giải thưởng về thành tích bảo vệ văn hóa di sản… Người xưa bảo: “Phúc bất trùng lai” nhưng nói tới Hội An thì quả là trong một thời gian ngắn đã đón nhận bao nhiêu là niềm vinh dự, là niềm vui mà toàn là niềm vinh dự, niềm vui to lớn và quan trọng.
Đối với tôi, Hội An là một đất nước quen thuộc, thân thương từ những năm tháng về nhận công tác ở Quảng Nam- Đà Nẵng. Và sau này khi đã ra công tác ở Trung ương mỗi lần về thăm lại Hội An tôi lại thấy có thêm một điều mới trong xây dựng, trong tổ chức quản lý, trong việc phát huy lợi thế của đô thị cổ. Cái đáng mừng là những đồng chí lãnh đạo ở thị xã đã có một sự đoàn kết nhất trí, một sự hiểu biết về vùng đất và con người mà mình đã gắn bó để từ đó luôn có những suy nghĩ sáng tạo ra các hoạt động phong phú để tô đậm nét văn hóa truyền thống của Hội An.
Vào đầu tháng 11 năm 2000, trong lần về tiếp xúc cử tri, tôi lại có dịp thăm Hội An. Bây giờ Hội An đã có thêm du lịch Victoria liên doanh với nước ngoài; khu du lịch biển của khách sạn Hội An và Khách sạn Sông Hội An của doanh nghiệp tư nhân. Ngân sách của Hội An, vì sự lịch sự của người dân Hội An, vì cảnh quan trời biển và vùng sinh thái Hội An … Đó là điều đáng mừng nhưng cũng đặt ra những vấn đề cần phải lưu ý chú ý trong hướng đi lên của đô thị này. Trong công cuộc một cuộc trao đổi với anh Nguyễn Đình An, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thị xã Hội An sang dự lễ nhận giải thưởng về bảo vệ di tích văn hóa của Hội An tại Nhật Bản, chúng tôi đã rất thống nhất về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc của đô thị cổ Hội An trong xu thế mở cửa hiện nay.
Trước hết là Hội An không thể chạy theo cái lợi trước mắt mà phải nâng cao chất lượng du lịch lên cao và phục vụ tốt hơn. Phải giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh đã có, đã được tín nhiệm vì đó là điểm hấp dẫn du khách Hội An. Hội An đã có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này, nhưng cũng phải thường xuyên rút kinh nghiệm trong việc tổ chức quản lý, trong việc tăng cường giáo dục truyền thống, nếp sống của người dân ở đây. Và điều đó phải được thực hiện từ trong mỗi gia đình, mỗi trường học, mỗi cơ quan, mỗi tổ chức xã hội.
Cái quan trọng là phải luôn luôn hâm nóng niềm tự hào và truyền thống đã có, không để chủ quan thỏa mãn đô thị biển trời, hải đảo, vùng sinh thái của Hội An vì cảnh trí ở đây vừa có sự sắp đặt của thiên nhiên và có cả bàn tay của con người trải qua nhiều thế hệ mới có được. Việc mở rộng đô thị cũng phải chú ý để không làm mất đi những nét hài hòa đã có, ngay cả việc phát triển dịch vụ ở khu vực biển cũng như xây dựng ở cù lao Chàm cũng phải chú ý điều này. Đừng để như thành phố Đà Lạt đã làm phai nhạt đi cái thơ mộng của Hồ Xuân Hương, cái đẹp trời cho của thác Cam – ly cái hồn nhiên và trong lành của thành phố du lịch cao nguyên.
Kết hợp một cách sáng tạo và hài hòa cả việc giữ gìn môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội, chất lượng du lịch của Hội An nâng cao thì khách sạn du lịch sẽ đến đông hơn, thu nhập về du lịch sẽ cao hơn, nhưng phải trên cơ sở không để môi trường du lịch bị ô nhiễm.
Giữ gìn, tôn tạo và phát triển di sản văn hóa Hội An cần phải có một cơ chế chủ động về ngân sách như thế nào để tạo điều kiện cho chính quyền địa phương thực hiện những nhiệm vụ trên.
Đây là vấn đề mà lãnh đạo và các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Nam cần sớm ban hành. Mặc khác, cần phải tranh thủ sự hỗ trợ của các ngành hữu quan ở Trung ương, các ổ chức tài trợ quốc tế… để bổ sung nguồn lực cho việc bảo vệ và phát huy nét đẹp và truyền thống của di sản văn hóa thế giới này.
Câu đối
Năm sáu năm tỏa ánh sao vàng, kết nghĩa Nước tình Nhà bền vạn thuở
Bảy mốt tuổi soi ván cờ đỏ, quyện lòng Dân ý Đảng sáng nghìn thu.
Mai Thúc Lân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

1001 cách ăn tết

Trung Quốc: Món ăn trong bữa tiệc cuối năm của người Trung Quốc rất phong phú nhưng nhất định không thể thiếu món đậu phụ, khoai sọ và cá. Bởi vì, trong tiếng Trung Quốc, đậu phụ phát âm gần như âm phúc hạnh phúc, cá và khoai sọ đều phát âm là “yu” (đồng âm với dư). Mồng hai Tết có tục làm bánh ga tô từ bột gạo, mì ống và ánh rán nhân thịt.
Nga: Bàn cỗ đầu năm luôn có bánh nướng cổ truyền rất ngon. Bánh nướng cổ nhất là bánh Culebeac. Món bánh nướng này là niềm tự hào của các bà nội trợ Nga vì theo câu tục ngữ Nga “nhà đẹp không phải do đồ đạc trưng bày mà nhờ có bánh nướng để đãi khách”. Chiếc bánh nướng truyền thống trên chỉ xuất hiện trên mâm cổ vào ngày Tết.
Mông Cổ: Hầu hết các món ăn cho ngày Tết đều chế biến từ sữa. Trên mâm cỗ tết lúc nào cũng có thịt nướng cặp vằn thắn, sữa và các món ăn chế biến từ sữa. Người Mông Cổ còn có tục uống trà đầu năm rất sang trọng. giờ giao thừa, người ta pha trà rót ra chén thứ nhất đem ra sân trước nhà vẩy khắp bốn phương, đến chén thứ hai dành cho chủ nhà và sau đó đến mọi thành viên trong gia đình.
Triều Tiên: Trên mâm cỗ Tết cúng đầu năm có các món ăn đặc trưng như cá bày ở phía bắc mân món thịt bày ở phía tây, cá món rau quả, cơm xúp thì bày ở giữa bàn. Còn các món khác thì bày ở những khoảng trống trên mân.
Indonesia: Ngày tết thường có món bánh tựa như cây bánh tét ở xứ ta. Họ dùng gạo tẻ đem gói lá dừa rồi hấp chín và tráng miệng bằng nước trái cây như dứa, xoài và dưa hấu. Ngoài ra còn có các món sate hay gulai làm bằng ruột dê hay bò với thịt, mỡ, đậu rang tán nhỏ cùng các gia vị như chanh, muối, ớt, hành khô… Còn món ren – đan món thịt kho nước dừa, và món đen đan thịt thái nhỏ ướp muối rồi phơi khô khi ăn đem rán rồi dầm vào dấm và nước tương ớt.
Ấn Độ: Các món của họ ngày thường đã cay, còn ngày Tết thì độ cay… hết chê! Bánh kẹo thì thật ngọt, nếu không quen ăn dễ cảm thấy đến khé cổ. Họ còn có tục uống trà pha sữa trâu Mura có bỏ nhiều đường và gừng tươi vào cho thơm và uống lúc còn móng.
Maroc: Bữa cỗ đầu năm có những món ăn đặc biệt như bánh Baxtilat bánh nhồi một con chim bồ câu kèm theo hạnh nhân, trứng rán, gia vị có nhiều tiêu và riềng. họ thích uống trà bằng cả hai ấm, một ấm bằng một loại trà hảo hạng, còn ấm kia chứa nước thơm như bạc hà, ngải cứu. Chủ nhà lần lượt rót trà rồi cho thêm nước thơm vào cốc để đãi khách. Trẻ em Ma rốc thì được bố mẹ cho ăn một loại bột nấu với rau thật no. Theo tập tục của người Ma rốc thì đêm giao thừa ông gà Nora sẽ đến tặng đồ chơi cho trẻ em nào ặt thật no bụng.
Tây Ban Nha: Có tục đêm giao thừa, hễ nghe thấy đồng hồ gõ một tiếng thì lấy một hột nho nhỏ vào miệng nhai cho thật nát. Nhai như vậy cho là năm mới đã cầu được sự bình yên và phúc thọ.
Hà Lan: Người dân xứ này thíc làm bánh nướng bằng trái nho khô. Đây là món ăn không thể thiếu trong ngày Tết.
Ả Rập: Các quốc gia Ả rập có tục uống trà đem pha đường cho thật nóng và thường bỏ vào chén trà một vài lá húng cho thơm. Bánh kẹo thì được chế biến cực kỳ ngọt. Còn các món ăn mặn có thịt cừu. Nhà sang thì quay nguyên cả con, moi hết ruột cho nhồi vào bụng cừu nào gạo, lạc, đậu Hà Lan và nhiều thứ hương liệu. Thịt cừu rán ăn với rau thơm cà chua sống, dưa chuột và quả ô liu muối.
Algeria: người dân Algeria đón tết bằng món ăn dân tộc là thịt dê nấu với gạo gọi là cút cu hầu như nhà nào cũng có món này.
Mê hi cô: Người Mê hi cô coi đậu đen là món ăn dân tộc. Vì thế trong bữa tiệc cuối năm của họ không thể thiếu đậu đen được. Họ hầm đậu đen với chân giò, bột đậu đen với thịt rồi rán. Đó là những món ăn được người Mê hi cô ưa thích nhất.
Côn Giang – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Tội phạm ma túy có xu hướng chững lại

Theo tin từ Ủy ban quốc gia phòng chống ma túy, từ 30/11/1998 đến 15/7/1999 các lực lượng Công an, Hải quan, Bộ đội biên phòng cả nước đã đấu tranh, bắt giữ 5.744 vụ và 11.702 đối tượng phạm tội ma túy, thu 38,8 kg heroin, 82,63 kg thuốc phiện, 267 kg cần sa… Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 2.004 vụ án ma túy với 4.837 bị cáo, tuyên phạt 19 án tử hình, 17 án chung thân. Do lực lượng chức năng đánh mạnh, đánh trúng vào các đường dây, tụ điểm tội phạm ma túy nên tình hình phạm tội ma túy đã được kiềm chế, chững lại so với trước, nhất là trên tuyến biên giới Việt – Lào, ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An, Quảng Ninh…., số vụ bị phát hiện và bắt giữ đang giảm dần. Các đối tượng buôn bán ma túy người Lào không dám vào Việt Nam nữa mà thuê mướn, móc nối người Việt vận chuyển ma túy vào Việt Nam.
Việt Nam đang xúc tiến hợp tác quốc tế trong phòng chống ma túy, tập trung nâng cao năng lực bắt giữ tội phạm, tăng cường kiểm soát ngăn chặn ma túy từ Lào, Cămpuchia, Trung Quốc và một số nước khác vào Việt Nam. Trong 6 tháng đầu năm 1999, cảnh sát Việt Nam phối hợp với Interpol và cảnh sát các nước điều tra hơn 30 vụ án ma túy quốc tế.Từ nay đến cuối năm, Ủy ban quốc gia phòng chống ma túy tiếp tục chỉ đạo tấn công tội phạm ma túy, ngăn chặn tội phạm ma túy từ nước ngoài vào Việt Nam, tập trung đấu tranh, bắt giữ, xét xử nhanh các vụ án về ma túy để nâng cao hiệu quả giáo dục. Xóa bỏ các đường dây, tụ điểm tiêm chích, buôn bán lẻ ma túy ở đường phố, hàng quán. Xây dựng hiệp định hợp tác phòng chống ma túy Việt Nam – Trung Quốc, tổ chức ký kết Hiệp định hợp tác phòng chống ma túy Việt Nam – Hoa Kỳ….
Gặp gỡ nhà thơ Tố Hữu tại khách sạn Ban Mê, Nha Trang
Chiều ngày 17/7/1999, tại khách sạn Ban Mê 3/3 Trần Quang Khải thành phố Nha Trang, Chi hội nhà văn Việt Nam tại Khánh Hòa đã tổ chức buổi gặp gỡ thân mật nhà thơ Tố Hữu nhân dịp ông đến thăm thành phố biển Nha Trang. Các nhà văn nhà thơ thuộc Chi hội nhà văn Việt Nam tại Khánh Hòa: Giang Nam, Đào Xuân Quý, Nguyên Hồ, Ngô Xuân Hội, Trần Chấn Uy, Nguyễn Gia Nùng, Cao Linh Quân cùng một số bạn đọc yêu thơ đã đến dự.
Khách sạn Ban Mê từ lâu đã trở thành điểm hẹn của các nhà văn. Nơi đây đã từng lưu trữ bước chân của nhiều nhà văn tên tuổi trong cả nước. Trong hoàn cảnh kinh doanh còn có nhiều khó khăn như hiện nay, nghĩa cử của lãnh đạo khách sạn Ban Mê là một nét đẹp văn hóa đáng trân trọng của những người làm du lịch.
Hội nghị chuyên đề xúc tiến du lịch Việt Nam
Ngày 28 tháng 7 năm 1999, tại khách sạn Melia Hanoi, Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội nghị chuyên đề xúc tiến Du lịch Việt Nam. Dự Hội nghị có hơn 150 đại biểu là đại diện các bộ, ngành, một số Sở Du lịch, các vụ chức năng Tổng cục Du lịch cùng 60 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong ngành Du lịch, Hàng không….Các phó tổng cục trưởng Đặng Văn Tín và Phạm Từ chủ trì hội nghị.
Đọc lời khai mạc, Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng đã phân tích những thuận lợi, khó khăn trong tình hình hoạt động kinh doanh của ngành Du lịch Việt Nam, đồng thời đánh giá cao tầm quan trọng của Hội nghị đối với việc triển khai chương trình hành động quốc gia.
Phó tổng cục trưởng Phạm Từ đã giới thiệu khái quát Pháp lệnh Du lịch và nội dung cơ bản của chương trình hành động quốc gia về Du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000
Hội nghị đã có nhiều tham luận nêu ra những quan điểm, đề xuất nhằm xúc tiến đưa Việt Nam thực sự trở thành “điểm đến của thiên niên kỷ mới”, ngày càng hấp dẫn khách du lịch. Đa số các ý kiến đều đi sâu vào giải pháp cơ bản là tuyên truyền quảng bá, đưa hình ảnh Việt Nam đến với thị trường khách du lịch quốc tế, nâng cao chất lượng phục vụ, cải thiện hệ thống chính sách, đơn giản hóa thủ tục…
Trong bài phát biểu tổng kết Hội nghị, Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng đã hoan nghênh những ý kiến và chia sẻ với những băn khoăn của các đại biểu về một số vấn đề còn tồn tại, đồng thời sẵn sàng đối thoại với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư để tìm ra những giải pháp tháo gỡ nhằm thúc đẩy Du lịch Việt Nam phát triển bền vững, lâu dài.
H.T – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Hợp tác du lịch đa phương trương xu thế – Phần 2

Những năm tới, Du lịch Việt Nam sẽ triển khai và phát động chương trình Du lịch Asean, tranh thủ đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, nâng cao hình ảnh du lịch Việt Nam, nghiên cứu và xem xét khả năng để hình thành mạng lưới đào tạo Du lịch trong Asean, cập nhật và nâng cấp thông tin mạng Webside du lịch, thống nhất tạo điều kiện thuận lợi đi lại nhằm khuyến khích du lịch trong nội bộ Asean. Việt Nam đang cùng với các thành viên Asean bước vào vòng đàm phán 3 nhằm từng bước tự do hóa thương mại dịch vụ du lịch, phù hợp với khuôn khổ hợp tác chung Asean. Triển khai Chương trình hành động Hà Nội, Việt Nam tiếp tục chủ động tham gia thực hiện kế hoạch hành động hợp tác du lịch nhằm phát triển Asean thành một điểm du lịch chung, theo hướng du lịch bền vững, tự do hóa thương mại dịch vụ du lịch, phù hợp với khuôn khổ hợp tác chung Asean. Triển khai chương trình hành động Hà Nội, Việt Nam tiếp tục chủ động tham gia thực hiện kế hoạch hành động hợp tác du lịch nhằm phát triển Asean thành một điểm du lịch chung, theo hướng du lịch bền vững, tự do hóa đi lại giữa các nước thành viên, xuất bản ấn phẩm “Hướng dẫn đầu tư du lịch Asean”, bản đồ du lịch Asean, xây dựng trang website du lịch chung và đang chuẩn bị nội dung ấn phẩm du lịch sinh thái Asean. Đặc biệt đang cùng với các thành viên Asean tích cực triển khai chương trình xúc tiến du lịch chung Chiến dịch du lịch Asean – VAC nhằm quảng bá, nâng cao vị thế của Asean trên bản đồ du lịch thế giới. Trong hợp tác với tiểu vùng Mê Kông mở rộng, Việt Nam thực hiện xúc tiến quảng bá các tour du lịch chung dọc sông Mê Kông và xây dựng mạng lưới thông tin tiểu vùng vào năm 2005. Tham gia vào WTO, Pata, năm 2001 Du lịch Việt Nam sẽ tập trung phối hợp triển khai hiệu quả dự án: “Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phục vụ phát triển Du lịch bền vững” mà Tổ chức Du lịch thế giới và UNDP đã cam kết trợ giúp, tiếp tục đề nghị Tổ chức Du lịch thế giới cung cấp những thông tin, số liệu thống kê du lịch, kinh nghiệm quản lý, phát triển du lịch của các nước mà Tổ chức Du lịch thế giới có, đặc biệt là chương trình đào tạo cho cán bộ Du lịch Việt Nam về quản lý, xây dựng chính sách phát triển ngành theo hướng phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. Đề nghị Tổ chức Du lịch thế giới giúp kêu gọi đầu tư vào khu du lịch biển Cửa Lò, giúp Việt Nam tổ chức sự kiện, hội nghị Tổ chức Du lịch thế giới tại Việt Nam và giúp tổ chức năm du lịch Việt Nam. Chi hội Pata Việt Nam đẩy mạnh hoạt động và phát triển hơn nữa về cả chiều rộng và chiều sâu, tranh thủ ảnh hưởng của tổ chức du lịch lớn nhất thế giới này trong tiếp thị, xúc tiến du lịch và bán sản phẩm du lịch. Bên cạnh đó, hợp tác Du lịch Việt – Lào – Thái, Việt – Lào – Campuchia, chương trình du lịch Bán đảo Vàng giữa Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam nhằm khai thác những di tích, văn hóa, lịch sử của 5 nước vẫn được chú trọng, nhất là đối với các tour đường bộ, đường sông và đường hàng không.
Vân Bình – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Hợp tác du lịch đa phương trương xu thế – Phần 1

Hội nhập với quốc tế
Hội nhập, hợp tác quốc tế hiện nay là một trong những hoạt động quan trọng của tất cả các nước trên thế giới nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cùng với các ngành kinh tế khác trong nước, Du lịch Việt Nam cũng đã và đang khẳng định được tầm quan trọng của mình trên trường quốc tế nhất là khi ngành du lịch là thành viên của Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh thế giới. Cùng với các tổ chức Thương mại thế giới, Tổ chức kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, khối Asean, Eu hay Asem… ngành du lịch Việt Nam đã thực sự chính sách hợp tác đúng đắn mà Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương. Nhìn lại chặng đường hoạt động của ngành Du lịch Việt Nam trong 5 năm qua, Du lịch Việt Nam đã thông qua hợp tác quốc tế, tranh thủ ảnh hưởng của Tổ chức Du lịch thế giới và Hiệp hội lữ hành châu Á – Thái Bình Dương để xây dựng, triển khai các dự án liên quan đến du lịch, tích cực tham gia các hoạt động để tranh thủ sự hỗ trợ về thông tin, đào tạo nguồn nhân lực và trợ giúp kỹ thuật. Trong sự hợp tác với tiểu thương vùng Mê Kông mở rộng và Tổ chức Du lịch thế giới, 9 cán bộ Du lịch đã được tham gia khóa bồi dưỡng về quản lý và phát triển du lịch, 20 cán bộ đã được nhận học bổng của Tổ chức Du lịch thế giới. Đặc biệt, Tổ chức Du lịch thế giới đã cử hai chuyên gia sang giúp Du lịch Việt Nam về luật pháp và xây dựng nội dung dự án: “Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch bền vững ở Việt Nam”. Đề nghị Tổ chức Du lịch thế giới giúp kêu gọi đầu tư vào khu du lịch biển Cửa Lò, giúp Việt Nam tổ chức sự kiện, hội nghị Tổ chức Du lịch thế giới tại Việt Nam và giúp tổ chức năm du lịch Việt Nam. Chi hội Pata Việt Nam đẩy mạnh hoạt động và phát triển hơn nữa về cả chiều rộng và chiều sâu, tranh thủ ảnh hưởng của tổ chức du lịch lớn nhất thế giới này trong tiếp thị, xúc tiến du lịch và bán sản phẩm du lịch. Dự án này đã được Tổ chức Du lịch thế giới và UNDP đồng ý tài trợ triển khai trong năm 2000 với tổng kinh phí là 232 nghìn đô la Mỹ. Có thể nói, trong 5 năm qua từ năm 1996 đến năm 2000, hợp tác quốc tế bước đầu đã tạo điều kiện cho Du lịch Việt Nam được chia sẻ học tập kinh nghiệm quản lý phát triển du lịch với các nước trong và ngoài khu vực trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó vị thế của Du lịch Việt Nam ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên, hợp tác quốc tế trong Du lịch vẫn phải được chú trọng và đưa lên mức độ cao hơn. Du lịch Việt Nam cần phải nắm bắt được cơ hội, vượt qua thử thách, chủ động tham gia hội nhập trên cơ sở xác định rõ mục tiêu, nắm vững quan điểm về các nguyên tắc hội nhập. Trong 5 năm tới từ năm 2001 đến năm 2005 Du lịch Việt Nam cần tập trung vào việc mở rộng thị trường, triển khai liên doanh dịch vụ lữ hành, nhà hàng, trung tâm hội nghị, ban hành Luật du lịch, khu vui chơi giải trí đạt tiêu chuẩn quốc tế, tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc để đẩy mạnh triển khai dự án phát triển nguồn nhân lực do EU tài trợ. Để hoàn chung với sự phát triển của Du lịch thế giới, ngành du lịch Việt Nam sẽ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức du lịch trong và ngoài khu vực.
Vân Bình – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.