Nghị định về kinh doanh lữ hành – Phần 3

Doanh nghiệp lữ hành quốc tế có các nghĩa vụ sau:
Chấp hành, phổ biến và hướng dẫn viên du lịch tuân thủ pháp luật và các quy định của nhà nước Việt Nam về an ninh trật tự, an toàn xã hội, về bảo vệ môi trường, bản sắc văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Có biện pháp đảm bảo an toàn về sức khỏe, tài sản và tính mạng của khách du lịch.
Công khai giá và các điều kiện thực hiện chương trình du lịch, dịch vụ du lịch, đảm bảo các dịch vụ cung cấp cho khách đúng số lượng và chất lượng như đã quảng cáo.
Thông báo về thời điểm bắt đầu hoạt động kinh doanh cho cơ quan quản lý du lịch cấp tỉnh, thành phố.
Tuyên truyền quảng bá về du lịch Việt Nam.
Chỉ được sử dụng hướng dẫn viên du lịch đã cấp thẻ để hướng dẫn khách du lịch.
Quản lý hướng dẫn viên du lịch, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho hướng dẫn viên du lịch của doanh nghiệp.
Không được cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng tư cách pháp nhân, tên doanh nghiệp của mình để hoạt động kinh doanh du lịch.
Thực hiện các nghĩa vụ theo quy đinh của pháp luật.
Điều 14: Hồ sơ đề nghị cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch
Hồ sơ đề nghị cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch gồm:
Đơn đề nghị cấp thẻ.
Sơ yếu lý lịch có xác nhận của UBND phường, xã nơi cư trú, hoặc cơ quan nơi công tác.
Bản sao có công chứng.
Bằng cử nhân và chứng chỉ bồi dưỡng về hướng dẫn viên du lịch
Bằng cử nhân ngoại ngữ hoặc chứng chỉ ngoại ngữ du lịch
Giấy khám sức khoẻ và ảnh.
Điều 15: Thủ tục cấp thẻ hướng dẫn viên
Người có đủ điều kiên quy định tại điều 13 của Nghị định này nộp, hồ sơ đề nghị cấp thẻ đến cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch có thẩm quyền.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan quản lý nhà nuớc về du lịch có trách nhiệm xem xét và cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch, trường hợp từ chối cấp thẻ, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch có thẩm quyền phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do đến người xin cấp thẻ.
Tổng cục du lịch uỷ quyền cho các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện cấp thử hướng dẫn viên du lịch.
Điều 16: Đổi, cấp lại, thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch.
Trường hợp đổi cấp lại thẻ hướng dẫn viên du lịch:
Trường hợp thẻ hư hỏng hoặc bị mất, hướng dẫn viên du lịch phải làm lại hồ sơ gửi đề nghị đổi, cấp lại thẻ.
Hồ sơ đề nghị đổi, cấp lại bao gồm:
Đơn đề nghị;
Hai ảnh 3 x 4;
Thẻ cũ đối với trường hợp đổi thẻ, hoặc xác nhận với cơ quan công an đối với trường hợp bị mất thẻ.
Thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch.
Hướng dẫn viên bị thu hồi thẻ nếu vi phạm một trong các trường hợp bị mất thẻ.
Vi phạm khoản 1 hoặc khoản 2 điều 12.
Vi phạm các khoản từ 3 – 8 Điều 12.
Khi bị thu hồi thẻ, hướng dẫn viên du lịch chỉ được xem xét để cấp lại sau 6 tháng kể từ ngày thẻ bị thu hồi. Hồ sơ và các thủ tục đề nghị cấp thẻ áp dụng theo quy định tại Điều 14 và Điều 15 của Nghị định này.
Chương IV: Quản lý nhà nước về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn và vận chuyển khách du lịch.
Điều 17: Quản lý nhà nước về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn và vận chuyển khách du lịch.
Tổng cục du lịch thực hiện việc quản lý nhà nước kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên du lịch, đề xuất với chĩnh phủ các cơ chế chính sách về du lịch, ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lữ hành, hướng dẫn viên du lịch, cung cấp thông tin về du lịch, phối hợp với các Bộ ngành hướng dẫn các địa phương thực hiện quản lý nhà nước về du lịch, kiểm tra xử lý quy phạm theo quy định của pháp luật.
Tổng cục du lịch công bố công khai các điều kiện và các thủ tục cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế để doanh nghiệp có căn cứ xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình du lịch và đăng ký kinh doanh.
Tổng cục du lịch chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật hiện hành, kể cả rút giấy ủy quyền cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch.
Tổng cục du lịch chủ trì cùng với Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa – Thông tin quy định điều kiện và cơ sở đào tạo có thẩm quyền cấp chứng nhận bồi dưỡng về hướng dẫn viên du lịch, chứng chỉ ngoại ngữ du lịch quy định tại khoản 3 khoản Điều 13 của Nghị định này.
Bộ Giao thông vận tải chủ trì phối hợp với Tổng cục du lịch và các ngành địa phương có liên quan đến hướng dẫn cụ thể về tiêu chuẩn và điều kiện với phương tiện người điều khiển phương tiện vận chuyển khách du lịch.
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc quản lý hoạt động kinh doanh lữ hành, hành nghề hướng dẫn, vận chuyển khách du lịch trên địa bàn, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật trên địa bàn.
Quang Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Nghị định về kinh doanh lữ hành – Phần 2

Điều 11: Quyền và nghĩa vụ của các hướng dẫn viên du lịch.
Hướng dẫn viên có các quyền sau:
Hướng dẫn viên du lịch theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng đã ký với doanh nghiệp lữ hành.
Tham gia hiệp hộ nghề nghiệp.
Hướng dẫn viên du lịch theo các chương trình du lịch trong và ngoài nước.
Nhận lương thù lao theo hợp đồng được đơn vị sử dụng
Tham gia thi tuyển, công nhân cấp bậc nghề nghiệp của hướng dẫn viên du lịch.
Các quyền khác theo quy định của pháp luật
Hướng dẫn viên có các nghĩa vụ sau:
Tuân thủ và hướng dẫn viên du lịch tuân thủ pháp luật Việt Nam, nội quy, quy chế nơi đến tham quan du lịch và tôn trọng phong tục tập quán của địa phương.
Hướng dẫn khách tham quan du lịch theo đúng chương trình, có thái độ văn minh, tận tình và chu đáo với khách.
Có trách nhiệm đối với việc bảo đảm an toàn, tính mạng, tài sản của khách du lịch.
Thông tin về chuyến đi cho khách du lịch và các quyền lợi hợp pháp khác của khách du lịch.
Đeo thẻ hướng dẫn viên du lịch khi làm nhiệm vụ.
Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 12: Những điều hướng dẫn viên không được làm
Hướng dẫn viên không được.
Lợi dụng hoạt động lữ hành, cung cấp những thông tin làm phương tiện đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Cho người khác mượn thẻ hướng dẫn viên
Có những hành vi, lời nói gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh, thuần phong mỹ tục của Việt Nam
Đưa khách du lịch đến khu vực cấm
Thay đổi chương trình du lịch thông báo cho khách mà không có sự đồng ý của khách.
Kiếm lợi bất chính đối với khách du lịch, nài ép khách du lịch mua hàng hóa, dịch vụ.
Tùy tiện cắt giảm các tiêu chuẩn, dịch vụ của khách du lịch.
Phân biệt đối xử với khách du lịch.
Điều 13: Cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch
Người có đủ điều kiện sau đây được cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch
Có quốc tịch Việt Nam , thường trú tại Việt Nam, có đủ năng lực hành vi dân sự
Không mắc bệnh truyền nhiễm, không sử dụng các chất gây nghiện.
Có bằng cử nhân trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng hướng dẫn viên du lịch do cơ sở đào tạo có thẩm quyền cấp.
Có bằng cử nhân ngoại ngữ hoặc chứng chỉ ngoại ngữ du lịch do cơ sở đào tạo có thẩm quyền.
Ngày 5/6/2001, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ban hành Nghị định số 27/2001/ NĐ-CP về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên du lịch. Để phục cụ quản lý nhà nước trong hoạt động kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên du lịch theo Nghị định số 27/2001/NĐ-CP, báo du lịch xin đăng toàn văn nội dung Nghị định này.
Điều 6: Điều kiện kinh doanh lữ hành quốc tế
Có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế
Ký quỹ 250 triệu đồng Việt Nam
Đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật
Có ít nhất 3 hướng dẫn viên du lịch được cấp thẻ
Điều 7: Cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế gồm
Đơn đề nghị cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế.
Bản sao hợp pháp các giấy tờ quy định tại điều 6 của Nghị định chính phủ.
Thủ tục cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế gồm:
Doanh nghiệp gửi một hồ sơ đề nghị cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế dưới đây gọi tắt là hồ sơ đến cơ quan quản lý du lịch của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nhiệp đóng trụ sở chính.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do doanh nghiệp dân đến, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải hoàn thành việc thẩm định hồ sơ và gửi văn bản về đề nghị kèm theo hồ sơ đầy đủ đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, cấp giấy phép. Trường hợp không đủ tiêu chuẩn xem xét, cấp giấy phép thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo văn bản nêu rõ lý do cho doanh nghiệp đồng thời gửi báo cáo về Tổng cục du lịch.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của cơ quan tiếp nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền về việc cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế cho doanh nghiệp. Trường hợp từ chối cấp phép, phải thông báo bằng văn bản rõ lý do cho doanh nghiệp biết.
Tổng cục du lịch công bố thủ tục cấp giấy phép theo hướng đơn giản, thuận tiện không gây phiền hà, cản trở sự hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và thực hiện việc cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế.
Điều 9: Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp lữ hành quốc tế.
Doanh nghiệp lữ hành quốc tế có các quyền như sau:
Xây dựng, quảng bá, bán và tổ chức thực hiện chương trình du lịch
Lập chi nhánh, văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật;
Tham gia các câu lạc bộ, các hiệp hội nghề nghiệp;
Tiến hành các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch;
Làm thủ tục xin xét duyệt nhân sự về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh cho khu du lịch với các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền.
Các quyền khác theo quy định của pháp luật;
Quang Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Nghị định về kinh doanh lữ hành – Phần 1

Nghị định về kinh doanh lữ hành hướng dẫn viên du lịch
Chương I: Những quy định chung
Điều 1: Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này quy định về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên du lịch.
Nghị định này áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân người Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế của tổ chức, cá nhân người nước ngoài hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên du lịch, trừ trường hợp pháp luật và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có quy định khác.
Điều 2: Trong nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Viêt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam.
Chương trình du lịch là lịch trình được định trước của chuyến đi du lịch do các doanh nghiệp lữ hành tổ chức, trong đó xác định thời gian chuyến đi, nơi đến du lịch, các điểm dừng chân, dịch vụ lưu trú, vận chuyển, các dịch vụ khác và giá bán chương trình.
Kinh doanh lữ hành là việc xây dựng bán tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nhằm mục đích sinh lời.
Hướng dẫn viên du lịch là người hướng dẫn khách theo chương trình du lịch và được thanh toán cho dịch vụ hướng dẫn.
Hướng dẫn viên du lịch không bao gồm: thuyết minh viên tại chỗ, người các cơ quan, tổ chức được cử đi công tác cùng khách là người nước ngoài.
Chương II: Kinh doanh lữ hành.
Điều 3: Kinh doanh lữ hành.
Tổ chức, cá nhân kinh doanh lữ hành kinh doanh du lịch lữ hành phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và cam kết thực hiện đầy đủ các điều kiện quy định nghị định này.
Việc thành lập doanh nghiệp lữ hành, đăng ký kinh doanh, bổ sung chức năng ngành kinh doanh lữ hành thực hiện theo Luật Doanh nghiệp, Liên Hợp tác xã, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 4: Điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa.
Các phương án kinh doanh du lịch
Ký quỹ 50 triệu đồng Việt Nam
Đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật
Điều 5: Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp lữ hành nội đia
Doanh nghiệp lữ hành nội địa có các quyền sau:
Xây dưng, quảng cáo, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch nội địa, khách du lịch là người Việt Nam cư trú ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch.
Lập chi nhánh, văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật
Tham gia các câu lạc bộ, các hiệp hội nghề nghiệp;
Tiến hành các hoạt động xúc tiến, quản bá du lịch theo đúng chức năng, quyền hạn và phạm vi kinh doanh của du lịch.
Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp lữ hành nội địa có các nghĩa vụ sau:
Chấp hành, phổ biến và hướng dẫn khách du lịch thủ pháp luật Việt Nam, các quy định của nhà nước và an ninh và trật tự, an toàn xã hội, về bảo vệ môi trường, bản sắc văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Có biện pháp đảm bảo an toàn về sức khỏe, tính mạng và tài sản của khách du lịch.
Công khai giá và các điều kiện thực hiện chương trình du lịch, dịch vụ du lịch, đảm bảo các dịch vụ cung cấp cho khách đúng số lượng và chất lượng như đã quảng cáo.
Thông báo về thời điểm bắt đầu hoạt động kinh doanh cho cơ quan quản lý du lịch cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Không được cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng tư cách pháp nhân, tên dooanh nghiệp của mình để hoạt động kinh doanh du lịch.
Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 9: Quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệ lữ hành quốc tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, được phép kinh doanh lữ hành theo giấy phép docơ quan Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền cấp, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của Nghị định này và các quyền và nghĩa vụ quy định trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản pháp luật liên quan.
Chương III: Hướng dẫn viên du lịch
Điều 10: Hành nghề hướng dẫn viên du lịch
Những người đủ tiêu chuẩn theo quy định của Nghị định này sẽ được xem xét để cấp hướng dẫn viên du lịch. Chỉ những người đã được cấp thẻ mới được hành nghề hướng dẫn viên du lịch đối với khách du lịch quốc tế. Hướng dẫn viên du lịch chỉ được hành nghề hướng dẫn viên du lịch khi đang làm việc ở một doanh nghiệp kinh doanh lữ hành.
Quang Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Hướng phát triển của du lịch Đà Nẵng

Đầu tư nước ngoài hướng phát triển của du lịch Đà Nẵng
Những năm 94 – 95 khu du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, nhiều tập đoàn du lịch lớn của các nước đã đến liên doanh đầu tư xây dựng khách sạn, các khu nghỉ mát có chất lượng cao. 5 dự án đã được ký kết nhưng chỉ có dự án với tập đoàn Furama được thực hiện, còn các liên doanh ITC Nhật, Lyda Úc, Indochina (Malaysia), Novotel Pháp đều xin tạm hoãn d ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế châu Á và du lịch Việt Nam đang trên đà giảm sút. Năm 2000 vừa qua, du lịch Việt Nam đã có dấu hiệu phục hồi nhưng các dự án tại Đà Nẵng vẫn chưa được tiếp tục triển khai.
Là thành phố lớn ở miền Trung, với ba di sản văn hóa thế giới Huế – Hội An – Mỹ Sơn có tiềm năng du lịch biển, sinh thái Đại hội Đảng bộ thành phố xác định cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001 – 2015 là công nghiệp – dịch vụ du lịch – nông nghiệp và giải pháp thực hiện là tạo điều kiện tối yêu để thu hút đầu tư trong và ngoài nước với vốn lớn, công nghệ hiện đại sẽ góp phần làm thay đổi diễn mạo du lịch, thay đổi tương quan kinh tế với các ngành trong cơ cấu thu nhập xã hội.
Thực tế cho thấy, đầu tư càng đồng bộ bao nhiêu thì sức hấp dẫn du khách càng lớn bấy nhiêu. Mô hình khu nghỉ mát Furama là một ví dụ: với số vốn 40 triệu USD, hiện nay Furama là khu nghỉ mát ven biển đẹp nhất Việt Nam và khách sạn 5 sao đầu tiên ở miền Trung, có quy mô 200 phòng ngủ và các dịch vụ giải trí, nghỉ dưỡng, ăn uống cao cấp. Hiện tại, lượt khách lưu trú và doanh thu một tháng của Furama bằng lượng khách và doanh thu một năm của 3 khách sạn lớn tại Đà Nẵng có tổng số phòng tương đương tháng 1 năm 2001 tổng lượt khách lưu trú của Furama là 5.088 khách, doanh thu đạt được 557.000 USD tương đương với 8,1 tỷ đồng. Khai trương từ tháng 4 năm 1997, Furama gặp biết bao khó khăn bởi đây là thời kỳ du lịch Việt Nam đang trên đà giảm sút đường bay quốc tế đến Đà Nẵng chưa có, thiên tai bão lũ, khiến Furama tưởng chừng như không trụ nổi. Hai năm liền công suất phòng không đạt 35%, song họ vẫn chấp nhận lỗ, duy trì hơn 350 nhân viên phục vụ với mức lương bình quân 70 USD/ tháng. Nếu một công ty không đủ thực lực hay đầu tư vốn vay thì hẳn sẽ không thể đứng vững được. Bằng sự nỗ lực tiếp thị, xúc tiến các đường bay quốc tế Băng Cốc – Đà Nẵng, Hồng Kông – Đà Nẵng, tham gia các cuộc hội chợ quốc tế, tiếp thị trên mạng toàn cầu…, năm 2000 công suất phòng của Furama đã đạt 50%. Theo ông Paul Stoll, Tổng giám đốc thì công suất phòng năm 2001 dự kiến đạt 60% và doanh thu bình quân 550.000 USD/ tháng. Khi phân tích cơ cấu khách lưu trú tại Furama, một con số đáng chú ý là lượng khách Việt Nam lưu trú tại Furama đứng hàng thứ 6 trong tổng số khách có quốc tịch của 15 nước khác nhau đến Furama với mức chi tiêu bình quân 60 – 100 USD/ ngày đêm. Điều đó chứng tỏ người Việt Nam có thu nhập cao cũng đã có những nhu cầu sang trọng đắt tiền.
Năm 2001, ngoài những khu vực có giấy phép đầu tư, nay có thêm nhiều địa chỉ mới để mời gọi các nhà đầu tư như: khu nam Ô – Xuân Thiều, cùng với dự án đường hầm đèo Hải Vân, đường Liên Chiểu – Thuận Phước. Các dự án du lịch biển tại đây sẽ rất có lợi thế về địa lý, danh thắng liên hoàn với khu du lịch Lăng Cô Huế, Bà Nà. Đường nối cầu sông Hàn ra biển thuộc quận Sơn Trà cũng là một địa phận mới. Theo quy hoạch, khu vực này dành cho phát triển du lịch vui chơi giải trí. Giá trị đích thực của cầu sông Hàn là biến một vùng đất được gọi là khu vực của 3 thành phố có cơ hội phát triển và dịch vụ du lịch sẽ tạo đà cho quận Sơn Trà như bãi Nam, bãi Bụt, bãi Bắc đều có thể đầu tư cho dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cùng các dịch vụ trên biển. Đầu năm nay, ột tập đoàn du lịch lớn ở Pháp đã đến khảo sát ở đây và theo họ, quanh bán đảo Sơn Trà là nơi lý tưởng để họ đầu tư cho du lịch.
Tiềm năng cùng cơ hội phát triển du lịch đang chờ đợi các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Diện mạo du lịch thành phố sẽ thay đổi, thành phố sẽ đẹp hơn nếu chúng ta có được những dự án đầu tư lớn cho du lịch.
Nhà hàng Sài Gòn
Hân hạnh phục vụ quý khách:
Ăn sáng tự chọn giá rẻ bất ngờ
Cơm trưa văn phòng giá bình dân
Nhận đặt tiệc cưới, sinh nhật, lien hoan giá ưu đãi
Phục vụ tân nơi theo yêu cầu của quý khác
Đặc biệt nhà hàng có cơ hội trường được trang bị đầy đủ những phương tiện để phục vụ hội nghị giá thảo thuận.
Có một sân thượng ngắm nhìn trời mây, toàn cảnh thành phố và con sông Sài Gòn. Khi trời lộng gió môi trường tuyệt vời. Một nơi lý tưởng cho tiệc cưới giá rẻ.
Chất lượng cao – giá hạ là phương châm phục vụ của nhà hàng chúng tôi.
Dương Thị Thơ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Thu lệ phí thị thực vẫn còn cao hơn quy định

Tổng cục Du lịch vừa đề nghị Bộ Ngoại giao chỉ đạo các Đại sứ quán Việt Nam khắc phục mức thu lệ phí xin thị thực bất hợp lý. Cần mở rộng việc cấp thị thực trực tiếp cho khách du lịch lẻ, nối mạng vi tính với Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an) để có thể cấp thị thực thời gian nhanh nhất.
Hiện nay, nhiều khách du lịch quốc tế phản ánh tình trạng phổ biến là phải trả lệ phí xin thị thực vào Việt Nam cao hơn nhiều so với quy định. Mặt khác, khách phải xin thị thực qua các đại lý du lịch nước ngoài nên thời gian thường bị kéo dài.
Đường giao lưu xuyên lục địa được ghi lại trong lịch sử
Con đường Tơ Lụa.
Ngày nay có nhiều tư liệu chứng minh rằng vào thế kỷ 2 trước Công nguyên, con đường Tơ Lụa đã hình thành nối liền thành phố Xian (Tây An) của Trung Quốc với các nước Trung Á, Ấn Độ, La Mã, Hy Lạp và các nước khác ở châu u.
Từ Tây An, con đường đi về phía tây qua sông Hoàng Hà, sau đi dọc theo chân núi Nam Sơn ở phía nam Trường Thành tới thành phố An Sĩ. Đường đi tiếp về phía tây, qua núi Thiên Sơn, theo thung lũng sông Jli, qua miền thảo nguyên cận Bankhaxơ để tới các nước Trung Á. Đường này người Trung Quốc gọi là “Thiên sơn bắc lộ”.
Đường thứ hai đi về phía tây của người Trung Quốc là đường qua phía nam dãy Thiên Sơn, vượt qua dãy núi Alai (cực bắc của Pamia), sau đó xuôi theo thung lũng sông Fêgan tới bồn địa Xưa Đaria. Đường này có tên gọi là “Thiên sơn nam lộ”. Cũng như con đường thứ nhất, cả hai con đường đều phải qua sa mạc Takla Makan ở phía tây Trung Quốc, đường dài tới 1.600km (tính từ tây sang đông).
Con đường Tơ Lụa thứ ba là con đường đi về phía Ấn Độ qua sông Acken – Đaria, rồi sau đó vòng theo phía nam dãy Pamia tới thung lũng Ấn Hà ở Penjáp. Từ đây hàng hóa của người Trung Quốc có thể theo đường biển đi tới các nước Ả Rập và châu u.
Con đường tơ lụa xưa có chiều dài khoảng 6500km, vượt qua thành phố biên giới phía tây Trung Quốc Kaxơga, rồi sau đó qua Tuốcmêkixtan, Iran và tận cùng tới thành phố Bátđa – thủ đô của Irắc ngày nay. Bátđa nằm trên bờ của sông Tigrơ, là một thành phố cảng buôn bán sầm uất, đẩy hàng hóa từ châu Á tới và từ đó vận chuyển theo đường biển và cả đường bộ tới châu u.
Cuộc hành trình trên con đường tơ lụa cũng đầy gian nan nguy hiểm. Đường đi phải qua những sa mạc cát mênh mông, phải chống lại bọn cướp nguy hiểm và bão cát vùi lấp cả người và hàng hóa. Sa mạc Takla Maca có độ cao 800 – 1000m trên mặt biển nên vào mùa đông, ban đêm nhiệt độ có thể hạ xuống tới -200C, còn ban ngày nắng vẫn như đổ lửa, nhiệt độ vào giữa trưa vẫn trên 400C. Vì lẽ đó các đoàn thương nhân, vượt qua hoang mạc thường đi vào đầu mùa thu để tránh nóng, tránh lạnh. Trước khi lên đường, người ta cho lạc đà ăn uống đầy đủ từ 1 tuần đến 10 ngày để chúng vượt qua sa mạc mà có những ngày không được ăn uống, hoặc ăn uống ít mà vẫn có vận chuyển hàng hóa. Vì có sức chịu đựng dẻo dai kỳ lạ nên lạc đà được coi là những mạch máu của hoang mạc cát (sa mạc). Vào thời Cổ đại và Trung cổ, hàng năm có tới vài nghìn lượt lạc đà đi và về trên con đường Tơ Lụa. Họ đi thành đoàn đông, kéo dài và người chỉ huy phải dùng trống lệnh hoặc tù và để điều khiển. Trong đoàn có người hoa tiêu dẫn đường. Vào thời kỳ đầu chưa chưa có la bàn, người hoa tiêu tìm phương hướng qua mặt trời, qua hướng gió, qua các chòm sao. Họ nắm rất chắc vị trí các ốc đảo, đoàn lữ hành có thể nghỉ ngơi, mua nước, mua lương thực, thực phẩm. Nơi nào mà ốc đảo có nhiều nước thì nơi đó biến thành một làng trù phú, có những cánh đồng trồng cây cao lương và chăn nuôi gia súc. Con đường có tên là tơ lụa vì hàng hóa vận chuyển trên con đường này chủ yếu là tơ lụa. Nghề ươm tơ dệt lụa ở Trung Quốc có từ lâu đời, từ năm 2698 trước Công nguyên do Hoàng hậu Xilingji, vợ Hoàng đế Huangđi phát kiến ra.
Vào thời Cổ đại, hàng tơ lụa Trung Quốc đã nổi tiếng ở nhiều quốc gia châu u và châu Á. Ngoài tơ lụa, hàng hóa trao đổi trên con đường này còn nhiều mặt hàng khác như hương liệu, các đồ thủ công cao cấp, các đá quý như hồng ngọc, bích ngọc. Con đường tơ lụa không chỉ đơn thuần là con đường thương mại mà nó còn là con đường giao lưu văn hóa xã hội giữa châu u và châu Á. Con đường tơ lụa còn là con đường ngoại giao. Nhiều sứ thần châu u đi tới châu Á và ngược lại đều đi qua con đường này.
Con đường tơ lụa tồn tại ngót 2 thiên niên kỷ. Vào thế kỷ 17, con đường này tắt dần do công nghệ đóng tàu biển có nhiều tiến bộ. Khi xuất hiện tàu thủy động cơ hơi nước thì con đường Tơ Lụa tắt hẳn vì con đường vận chuyển hàng hóa bằng đường biển lúc này tỏ ra ưu thế, vừa nhanh lại vừa rẻ.
Lê Trọng Túc – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(181)2001

Hà nội hè này còn thiếu nước sạch

Bước vào mùa hè năm nay, Công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội vừa đầu tư và cải tạo sửa chữa hàng ngàn mét đường ống và có hướng giải quyết nước sạch cho các khu vực thiếu nước ở địa bàn.
Theo dự tính hè này, Hà Nội có khoảng 30 điểm khan hiếm nước sạch, đó là Khương Thượng, Nam Thành Công, Ô Chợ Dừa, đường La Thành, Trung Liệt… (quận Đống Đa). Các phố Minh Khai, tập thể Tân Mai, Trương Định… (quận Hai Bà Trưng). Các phường Phương Liệt, Khương Trung, phía tây nam đường Trường Chinh… (quận Thanh Xuân).
Để giải quyết việc khan hiếm nước sạch trên địa bàn, công ty đã lập kế hoạch cấp nước bằng xe téc 5m3 và 10m3, từ 8h đến 21h hàng ngày.
Các trường học, bệnh viện, khách sạn… thiếu nước, cần làm giấy giới thiệu xin cấp nước tại các Xí nghiệp Kinh doanh nước sạch Hà Nội sẽ điều phối cung cấp nước sạch và giúp các hộ dân ở các khu chung cư thay thế các đường ống hư hỏng, lắp lại hệ thống nước mới, nhằm đáp ứng nhu cầu nước sạch của nhân dân.
Chùa chung, chùa riêng
Thôn Nghĩa và thôn Yên ở xã H, chỉ cách nhau một đầm sen. Trước đây thôn Nghĩa có ngôi chùa Giáp tương đối lớn. Trong ký ức lớp người già ở thôn Nghĩa vẫn nhớ tới tiếng mõ đều đều văng vẳng trong đêm vắng. Tiếng mõ tụng kinh giữa làng quê yên tĩnh nhắc nhở con người làm điều thiện hàng ngày. Thời chiến tranh, làng Nghĩa trở thành trọng điểm đánh phá của máy bay giặc. Bom đạn đã san phẳng ngôi chùa Giáp. Chẳng ai nghĩ có một ngày ngôi chùa ấy được xây dựng trở lại. Năm 1999, người ta mới sực nhớ đến làng Nghĩa trước kia có chùa. Ông Đô vốn là người ở thôn Nghĩa liền đứng ra vận động quyên góp dựng lại chùa Giáp. Một căn nhà ba gian cấp 4 hoàn thành. Thêm hình hai con rồng chầu nguyệt đắp bằng xi măng và tấm ván gỗ kẻ chữ: “Chùa Giáp”, căn nhà ba gian đó liền biến thành… chùa. Thôn Yên thấy thôn Nghĩa có chùa liền triệu tập ngay các con nhang đệ tử “Thôn ấy có chùa chẳng nhẽ thôn ta không? Lẽ nào ta phải sang thôn Nghĩa cúng nhờ…?”. Thế là một ngôi chùa nữa ra đời. Thôi thì họ đặt là chùa thì ta đặt là nghè. Vậy là làng Yên đã có nghè. Nghè Yên. Dân thôn nào về cúng ở thôn ấy. Thời buổi khoa học tiến bộ. Người ta có sáng kiến đưa tiếng mõ lên loa phóng thanh. Nhiều hôm khách bộ hành đi ngang giật mình nghe tiếng mõ vang vọng trên loa tưởng trong thôn có nhà bị cháy đang phát lện báo động. Chưa hết! Thời buổi kinh tế thị trường. Chùa cử người ra đường đứng đón những người đi chùa cũng ân cần như những người bán quán mời khách vào hàng. Tiền xây chùa thì do nhiều tấm lòng hảo tâm góp lại nhưng khi đứng tên xây dựng chỉ có một người. Nghiễm nhiên chùa, nghè do người đó quản lý. Trừ ngày rằm, mồng một còn lại lủng lẳng những chiếc khóa to đùng ngoạm vào đôi cánh cửa khép im ỉm làm người ta chợt nhớ đến cảnh kho chứa đồ chăm bón lúa của một hợp tác xã nông nghiệp nào đó.
Tưởng rằng ở khu động Hương Tích các loại “chùa riêng” mới mọc lên nhan nhản như hàng cơm hàng phở. Ai ngờ, ở thôn quê yên tĩnh lại cũng đua nhau mọc lên chùa thôn, nghè thôn rồi trở thành chùa, nghè của một người, rồi tranh giành khách lẫn nhau. Số tiền đèn dầu, tiền của những nhà từ thiện bay vào chiếc hòm công đức rồi bay tiếp đi đâu? Cái tâm, cái đức của những tấm lòng thành rồi sẽ trôi đến đâu khi “nhầm” vào những ngôi chùa “riêng” như thế?
Ngành du lịch tham gia phục vụ các sự kiện thể thao trong năm 2001
Từ ngày 17 đến 19/ 12, tổng cục du lịch đã tổ chức Hội thi lễ tân khách sạn toàn ngành lần thứ nhất. Hơn 100 thí sinh được chọn từ khắp các địa phương trên cả nước về dự thi. Hội thi đã tạo ra không khí thi đua sôi nổi trong toàn ngành, tại các địa phương. Đây là cơ hội để nhân viên lễ tân cả nước có dịp trao đổi, học tập kinh nghiệm, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng dịch vụ trong toàn ngành Du lịch. Hội thi cũng nhằm hướng tới chuẩn hóa trình độ nghiệp vụ của nhân viên lễ tân trong khách sạn. Rõ ràng đây là cơ hội lớn cho hoạt động du lịch tại các địa phương nhập cuộc. Vì vậy, việc nắm bắt kịp thời các sự kiện thể thao trong năm là mối quan tâm rất cần thiết của các doanh nghiệp du lịch. Từ đó có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa ngành Thể thao và du lịch vì sự phát triển chung. Ngành du lịch tham gia phục vụ các sự kiện thể thao trong năm 2001, cũng là dịp thử sức chuẩn bị cho công tác phục vụ SEA Games năm 2003.
Phạm Phú Thứ không những là vị quan tài giỏi, thanh liêm, nhà cải cách xã hội táo bạo, nhà ngoại giao mềm mỏng khôn khéo mà ông còn là một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, đặc biệt là tài viết ký. Tây hành nhật ký luôn được các thế hệ xưa nay đánh giá cao vì ngoài giá trị đích thực về tư liệu lịch sử được ghi chép tỉ mỹ công phu, tác phẩm còn là một thiên du ký được viết bằng những lời văn mộc mạc nhưng vô cùng trong sáng, khúc chiết, hấp dẫn người đọc. Đây là một áng văn xuôi xuất sắc, xứng đáng xếp ngang những tác phẩm nổi tiếng của nước nhà như Hoàng lê Nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Lê quý kỷ sự của Nguyễn Thu…
Hạ Huyền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Du lịch Uganda

Uganda nổi tiếng là quốc gia có nhiều danh lam thắng cảnh, với những khu rừng nguyên sinh trù phú và nhiều loại thú rừng sinh sống, trong đó có cả những loài thú nơi khác đã tuyệt chủng.
Mở đầu chuyến du lịch, khách có thể tới thăm thác nước khổng lồ với tên gọi là thác Murchisora Fall nằm trên sông Nile. Thác rộng 18 bộ và cao tới 130 bộ, đây là một trong những thác nước lớn nhất của châu Phi ngày nay có thể tiếp cận được bằng đường bộ, nhưng người ta thường đến đây bằng tàu thuyền để an toàn hơn vì nơi đây có nhiều thú dữ ăn thịt. Xung quanh thác Murchisora là những vùng sa mạc rộng lớn, nơi đây có nhiều thú hoang dã như hổ báo, hưu nai, tê giác, bò rừng…, dưới nước thì có cá sấu, hà mã…, trên cây thì có các loại chim, vượn, khỉ… Đặc biệt, Uganda còn có cả những loại đại bàng ăn cá rất quý hiếm, riêng cá sấu có tới 73 loài khác nhau, hay bò rừng nước lại có đến 53 loại, khỉ đầu cho cũng có trên 20 loài riêng biệt.
Bên dòng sông Nile thơ mộng là khu rừng già Sarola-lodge nổi tiếng ở Baraa, thu hút rất đông khách du lịch thập phương. Đây là vương quốc của các loại khỉ đầu chó, làm người ta liên tưởng tới những cảnh trong phim The Jungle Book (Rừng nhiệt đới) của hãng phim Disney nổi tiếng của Mỹ dàn dựng và công chiếu gần đây. Khu rừng Sarora bắt đầu được hồi sinh sau hơn một thập kỷ kể từ khi những cuộc nội chiến tại Uganda bắt đầu tạm lắng và quần thể những loài khỉ quý hiếm bắt đầu sinh sôi ngày càng nhiều.
Cách Sarola-lodge vài dặm là những cánh rừng thưa bằng phẳng, một địa điểm du lịch sinh thái đầy lý tưởng. Đây là vùng đất trung du với những đồng cỏ trải dài tươi tốt. Trên đường đi, người ta có thể gặp rất nhiều đoàn khách du lịch trên những chiếc xe Jeep địa hình có thể đi sát những con hổ mà không bị tấn công, là cảnh hiếm thấy ở nơi khác trên thế giới. Theo đó, người và hổ đối mặt hàng giờ, thậm chí khách có thể quay phim, chụp ảnh tùy thích mà không bị quấy rầy hoặc bị “những ông ba mươi” tấn công săn đuổi.
Phong cảnh thiên nhiên, khí hậu ôn hòa, cuộc sống hoang dã và sự mến khách của những người dân địa phương, nơi ít có điều kiện tiếp cận với nền văn minh, quyện hòa với những cảnh đẹp thiên nhiên hoang dã đã biến Uganda thành một thiên đường du lịch. Để tận dụng thế mạnh này, trong những năm gần đây, chính phủ các nước châu Phi nói chung và Uganda nói riêng đã có những việc làm thiết thực nhằm duy trì ngành du lịch không ngừng phát triển, nhất là việc tu bổ các công trình hạ tầng, giáo dục cho mọi người về ý thức bảo vệ thiên nhiên và phát triển các loài động vật. Hiện nay, mỗi năm Uganda đón nhận trên 50.000 khách du lịch thập phương và dự kiến con số này sẽ tăng lên gấp đôi, gấp ba vào những năm tới.
Thái nguyên: triển khai chương trình du lịch 2001
Sở Thương mại – Du lịch Thái Nguyên vừa triển khai chương trình hành động quốc gia về du lịch với chủ đề: “Thái Nguyên – điểm đến của du lịch cội nguồn”. Chương trình gồm 6 nội dung: Tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch toàn tỉnh; Phát triển, nâng cấp các điểm du lịch; Du lịch văn hóa gắn với các lễ hội dân tộc; Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch ở tỉnh; Tạo điều kiện khuyến khích hoạt động du lịch và hoàn thiện tổ chức, nâng cao hiệu quả quản lý về du lịch. Ngoài ra, Sở cũng đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước về phát triển du lịch gồm nhiều ngành tham gia.
Nước uống đóng chai không an toàn và cũng không bổ dưỡng
Theo một báo cáo của Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã thế giới (WWF) công bố ngày 3/5, nước uống đóng chai đang được bán rộng rãi trên thế giới không an toàn hơn đối với sức khỏe con người và cũng không bổ dưỡng hơn nước uống bình thường lấy từ vòi ở các nước công nghiệp tiên tiến.
Một công trình nghiên cứu của Tổ chức Lương nông Liên hợp quốc cho biết, nhu cầu nước uống đóng chai trên thế giới hiện nay rất cao, mức tiêu thụ hàng năm là 89 tỷ lít với doanh số 22 tỉ USD. Nguyên nhân là do nhiều người tiêu dùng có quan niệm sai lầm cho rằng đây là nước khoáng thiên nhiên lấy từ suối, hồ hoặc giếng tự nhiên, chứa ít vi khuẩn hơn nước lấy từ vòi ra, có tác dụng chữa bệnh và có nhiều giá trị dinh dưỡng.
Báo cáo của WWF khẳng định rằng, nước khoáng thiên nhiên không phải là nước vô trùng và nó có thể chứa các vi khuẩn tự nhiên, rằng đây là một sản phẩm tự nhiên không thể tẩy trùng được và thậm chí trong thành phần của nó có thể có các hợp chất sắt và lưu huỳnh. Hơn nữa, ước tính đã có 1,5 triệu tấn chất dẻo được sử dụng để sản xuất chai đóng nước trên toàn thế giới, điều này có thể gây tác hại đối với môi trường.
Theo WWF, mức tiêu thụ và doanh số bán nước đóng chai ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, tăng khoảng 15% từ năm 1999 đến 2001.
K.N – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Phía sau sàn diễn

Chẳng phải chỉ có những cuộc trình diễn của người mẫu trên sàn diễn mới được chú ý. Một khi họ đã trở thành nổi tiếng thì những gì thuộc về đời thực của các siêu mẫu cũng luôn được nhiều người quan tâm.
Trên sân khấu, trong những bộ trang phục độc đáo, các người mẫu trong thật duyên dáng và quyến rũ. Nhưng phía sau những buổi trình diễn ấy là một thế giới hoàn toàn khác. Đó là sự cạnh tranh khốc liệt của nghề nghiệp. Trên sàn diễn, nhìn những người mẫu trao nhau những nụ cười, những ánh mắt thân thiện, khó ai biết được chỉ cần đôi chân vừa khuất sau tấm màn nhung kia là nhiều người như chẳng hề quen nhau, thậm chí còn so đo từng chỗ đứng mỗi khi xuất hiện. Tôi nhớ lần dự buổi ra mắt bộ sưu tập thời trang của một nhà tạo mẫu nổi tiếng tại khách sạn New World. Trong khi khán giả náo nức chờ xem biểu diễn thì bên trong lại có sự giằng co, giận dỗi của hai người đẹp chỉ vì một cô nhất quyết đòi “phải xếp đi giữa”. Giải thích sao cô vẫn không chịu, vì cô cũng từng là hoa hậu, là người mẫu nổi tiếng, sự xuất hiện của cô lúc nào cũng thu hút khán giả… Cuối cùng, một người mẫu khác đành nhường chỗ cho cô ta! Rồi chuyện người có danh hiệu không chịu đi cặp với người không có danh hiệu vì một lẽ đơn giản: đi chung như thế sẽ hạ thấp mình (?). Chuyện trang phục diễn cho người mẫu cũng phức tạp không kém. Tuy không nói ra nhưng như có một “quy định” ngầm rằng, quần áo “xấu” dành cho những người mẫu mới vào. Có trường hợp, nhà tạo mẫu đã may theo số đo của từng người mẫu, nhưng khi chuẩn bị ra diễn, cô người mẫu thuộc hạng “vỏ-dét” thấy trang phục của người khác đẹp liền đòi cho bằng được, “nếu không mặc áo đó thì tôi không diễn”/ Trong khi các cô người mẫu mới vào nghề phải tập đúng lịch yêu cầu thì mấy “sao” thời trang lúc nào cũng có điệp khúc “Em bận lắm, cứ cho em biết đội hình, em sẽ đi được…”. Các cô cho rằng là người nổi tiếng, sự xuất hiện tên tuổi của các cô cũng đã dư sức thu hút khán giả rồi!
Đó là chuyện trên sàn diễn, còn ngoài đời thì sao? Lâu nay trên báo chí, chúng ta vẫn thường thấy những cuộc trò chuyện với các người mẫu nổi tiếng. Bao giờ khi hỏi về mẹ, các cô đều nói một cách trân trọng, rất “bài bản”, nào là “em yêu mẹ nhất, phần thưởng lớn thường nghĩ đến mẹ”… Nhưng trong hậu đài, người ta thấy có cô la mắng mẹ không ngần ngại chỉ vì bà cột dây giầy sao chậm quá, hay quát tháo lên chỉ vì cái nút áo cài sai… Ngay chuyện học hành của các cô, lúc nào cũng nghe “em đang là sinh viên năm thứ nhất, thứ ba…” của trường này, trường nọ, nhưng một số cô hiện diện ở các shop quần áo, quán café nhiều hơn là ở giảng đường! Ban đêm lại tụ tập ở các vũ trường thì thử hỏi thời gian đâu để học hành cùng sách vở! Chuyện quan hệ tình cảm cũng có vấn đề. Không ít cô người mẫu hễ gặp nhau là lấy một người mẫu nào đó làm chủ đề trong lúc “trà dư tửu hậu”, đại loại như “nhỏ X đen như con mắm lóc hay con K sao chảnh quá…”. Khuynh hướng đáng buồn trong không ít người mẫu nữ là cặp bồ với những tay giàu có, thương gia hay ngoại kiều, tổng giám đốc công ty… mặc dù biết người ta đã có gia đình! Các cô tận dụng sắc đẹp một thời của mình để đánh đổi nhà, xe hơi, một shop thời trang v.v… Giở lại những vụ án kinh tế lớn thì không ít có vụ có dính đến mấy cô người mẫu… Hiểu rõ những vấn đề trên đạo diễn Nguyễn Hữu Dũng, chủ nhiệm lớp thời trang Quốc tế của Trung tâm đào tạo doanh nghiệp cho biết: “Chúng tôi sẽ đưa vấn đề đạo đức vào khóa học, xem như môn học chính thức, để các em ý thức rằng đây là nghề như mọi nghề khác”. Dù sao, có học đạo đức vẫn hơn!
Đã có gần 900.000 thuê bao di động trả trước
Cuối năm 1999, toàn quốc mới chỉ có 372.924 thuê bao di động các loại, đến tháng 4/2001 đã có gần 900.000 thuê bao. Kết quả này phần lớn nhờ sự ra đời của loại hình dịch vụ điện thoại di động trả trước.
Theo số lượng của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông, tính đến ngày 8/3, tổng số thuê bao của mạng Vinaphone là hơn 500.000 thuê bao, trong đó VinaCard chiếm hơn 75% và mạng MobiFone là hơn 369.000 thuê bao, trong đó MobiCard chiếm 65%. Thời gian qua, Công ty GPC và VMS đã tích cực nâng cấp, mở rộng dung lượng, chất lượng mạng lưới để phục vụ nhu cầu khách hàng. Tổng Công ty đã có kế hoạch nâng dung lượng tốc độ truyền tải mỗi mạng di động trả trước từ 400K lên 600K trong tháng 6/2001.
Trương Hoàng Phú – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Cảm nhận Khoang Xanh

Quả cô bạn tôi chọn không lâm. Năm nay Khoang Xanh có nhiều nét mới. Lối rẽ từ đường quốc lộ vào đã cải tạo, nâng cấp. Du khách không còn phải than phiền về những “ổ gà, ổ trâu”. Đến nơi, luồng không khí dìu dịu đã xóa tan đi những giọt mồ hôi, mệt nhọc bụi bặm. Chẳng thể nào người ta gọi đây là lá phổi xanh của Hà Nội. Đang tận hưởng không khí trong lành, đã thấy bên tai tiếng suối róc rách như bản hòa tấu đưa chúng tôi về với những truyền thuyết ly kỳ, hấp dẫn. Dòng Suối Tiên vắt mình trên cao, len lỏi qua các sườn đá chảy xuống trong như dải lụa bạc khổng lồ. Và hình như dưới suối, các nàng Tiên đang vui đùa thì phải. Thấy tôi thả hồn, cô bạn mới vỗ vai: Này! Tiên vừa xuống đó, ra giấu cánh đi để nàng đi về nhà. Câu nói đã xua tan không khí huyền ảo, thơ mộng. Cả bọn cười vang và tiếp tục cuộc hành trình. Leo đến khu rừng nguyên sinh thì trời tối. Chúng tôi giằng trại rồi đốt đuốc. Trong ánh lửa bập bùng, thoảng nghe có tiếng những chú nai tác bạn. Giữa cái vắng lặng ở núi rừng mà vẫn thấy ấm cúng và thú vị biết bao. Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình khám phá thiên nhiên kỳ thú. Chiều đến, cả bọn rủ nhau xuống núi vui đùa trên bờ cát. Quanh khu bể rộng 22.000 m2, Ban quản lý cho xây dựng 30 nấm lá cọ để du khách có thể nghỉ ngơi sau những lúc vui đùa dưới nước. Những bức tượng hình voi, rồng, cô gái Dao, Mường vừa tạo được cảnh quan, vừa là những đầu mối bơm nước từ các bể lọc trên cao. Vì thế du khách an tâm về vấn đề vệ sinh. Khi bơi thoả thích, khách lên cầu trượt, cạnh đó có hình ảnh thầy trò đường tăng đi tây trúc thỉnh kinh. Năm trước mối cầu trượt chỉ dài 30 m thì nay tăng thêm 10 – 15 m mỗi lần trượt. Rời khu công viên nước, chúng tôi đến khu giải trí xe đụng và ngôi trong biểu tượng ly cà phê Cao Nguyên ngắm cảnh. Lãnh đạo công ty vừa liên kết với công ty TNHH Huỳnh Thái mở rộng khu giải trí này. 10 xe đụng cùng 9 biểu tưởng ly cà phê được chế tạo bằng nhựa Comporsit, tạo ra những cú va chạm êm ái. Đang thích thú trong những chiếc ly, cô bạn tôi khoái chí chỉ ra dòng chữ trước cửa một nhà hàng gần đó: “Ba Vi có bovang”. Vâng thịt thơm ngon, sữa mát bổ”. Đúng là phong cách Ba Vì, mà chỉ có ở Khoang Xanh.
Ông Nguyễn Viết Thuận – Chủ Tịch Hội đồng quản trị, Phó giám đốc Công ty du lịch Khoang Xanh – Suối Tiên cho biết: “Trong năm 2001, toàn khu du lịch Khoang Xanh đã đàu tư 2 tỷ đồng. Ngoài việc tạo thêm nét mới cho khu vui choi giải trí, chúng tôi cần xây dựng thêm 18 phòng nghỉ. Đồng thời BQL luôn có sẵn 30 chiếc liều trại (20 cái nhỏ, 10 cái lớn) cho du khách.
Hết 2 nagỳ tận hưởng Khoang Xanh – Suối Tiên, nhưng ai cũng lưu luyến chia tay. Cả núi rừng ngút thẳm như bủa vây, lôi kéo chúng tôi. Tiếng suối róc rách, thì thầm như mời gọi: Hãy trở lại Khoang Xanh.
Phỏng vấn ngắn Anh Pierre Vincent 26 tuổi, quốc tịch Pháp
Xin chào Anh! Anh đã đi tham quan những điểm du lịch nào trong chuyến đến Việt Nam lần thứ 2 này?
Anh Pierre Vincent: Lần này tôi đi cùng một vài người bạn thay vì theo tour của công ty du lịch như lần trước. Tôi vừa đi Nghệ An thăm quê nội, quê nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đi tắm biển Cửa Lò. Đến thăm quê hương của người, tôi cảm nhận được lòng kính yêu Bác Hồ của nhân dân Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế. Còn bãi biển Cửa Lò thì rất là tuyệt, nước trong xanh và bãi cát trắng mịn.
Anh nhận xét gì về chất lượng dịch vụ du lịch trong chuyến đi này.
Anh Pierre Vincet: Cách chế biến món ăn, theo tôi, còn đơn điệu và không có nhiều món để lựa chọn. Điều làm tôi và nhiều khách thấy phiền phức là không có sự phối hợp hài hoà giữa giờ tàu hoả đến Vinh và nguyên tắc về thời gian cho thuê khách sạn. Thời gian thuê khách sạn một ngày đêm thường từ 12 giờ trưa hôm nay đến 12 giờ trưa hôm sau. Chúng tôi đi bằng tàu hoả từ Hà Nội về đến ga Vinh khoảng 5 giờ sáng, sau đó đi thăm quê Bác bằng ô tô. Khoảng 2h chều, chúng tôi quay về khách sạn đã đặt trước ở Cửa Lò. Nhưng tôi đã phải đợi ở phòng lễ tân đến 7h tối mới nhận được phòng vì khi đó những khách thuê phòng hôm trước mới trả phòng về Hà Nội bằng chuyến tàu xuất phát ở Vinh lúc 21h. Có lẽ tôi đi Sapa bằng ô tô để chủ động hơn về thời gian và tránh phiền phức tương tự.
Xin cảm ơn những ý kiến đóng góp của anh và xin hẹn gặp lại.
Từ ngày 17 đến 19/ 12: tổng cục du lịch đã tổ chức Hội thi lễ tân khách sạn toàn ngành lần thứ nhất. Hơn 100 thí sinh được chọn từ khắp các địa phương trên cả nước về dự thi. Hội thi đã tạo ra không khí thi đua sôi nổi trong toàn ngành, tại các địa phương. Đây là cơ hội để nhân viên lễ tân cả nước có dịp trao đổi, học tập kinh nghiệm, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng dịch vụ trong toàn ngành Du lịch. Hội thi cũng nhằm hướng tới chuẩn hóa trình độ nghiệp vụ của nhân viên lễ tân trong khách sạn. Rõ ràng đây là cơ hội lớn cho hoạt động du lịch tại các địa phương nhập cuộc. Vì vậy, việc nắm bắt kịp thời các sự kiện thể thao trong năm là mối quan tâm rất cần thiết của các doanh nghiệp du lịch. Từ đó có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa ngành Thể thao và du lịch vì sự phát triển chung. Ngành du lịch tham gia phục vụ các sự kiện thể thai trong năm 2001, cũng là dịp thử sức chuẩn bị cho công tác phục vụ SEA Games năm 2003.
Bích Loan – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 221 (186) 2001

Ải Chi Lăng

Ải Chi Lăng vùng địa linh nhân kiệt và rực rỡ chiến công ở miền biên ải phía Bắc của Tổ quốc. Với địa thế hiểm yếu, Ải Chi Lăng được coi là bức tường thành Thăng Long trong việc chặn đứng các cuộc viễn chinh khét tiếng từ phương Bắc tràn sang. Chi Lăng là ải có qui mô hoành tráng và đồ sộ chạy dài gần 20 km, rộng 3 km nối liền hai huyện Chi Lăng và Hữu Lũng của tỉnh Lạng Sơn. Ải Chi Lăng là thắng cảnh được bao bọc bởi dãy núi đá Kai Kinh ở phía Đông. Hai đầu ải là những ngọn núi đá độc lập, cao chót vót tạo thành thế hiểm. Lịch sử oai hùng của Chi Lăng gắn liền với những hoạt động của các nhà quân sư thiên tài như Trần Quốc Tuấn và những thủ lĩnh tài năng của xứ Lạng: Phò mã Thân Cảnh Phúc, Thế Lộc, Hoàng Đại Huề…
Ngược dòng lịch sử xa xăm, co người còn để lại ở Chi Lăng những vết tích của nền văn hóa Bắc Sơn – Mai Pha nổi tiếng với những hang động đẹp như trong huyền thoại và những rìu đá, mảnh gốm… minh chứng cho những giai đoạn lịch sử, tiền sử của con người sinh sống ở nước ta.
Vào những năm trước và sau công nguyên, Ải Chi Lăng đã gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, đấu tranh chống các triều đại phong kiến Trung Quốc xâm lược . Thế kỷ XIV, tể tướng nhà Trần là Phạm Sư Mạnh khi cưỡi ngựa qua biên ải đã hạ một câu thơ bất hủ:
“Chi Lăng ải hiểm tựa lên trời” Năm 1077, phục quốc Thái úy Lý Thường Kiệt đi thân hành về Chi Lăng gặp Phò mã Thân Cảnh Phúc bàn bạc việc binh. Với chiến tuyến Quyết Lý và Giáp Khẩu (Chi Lăng), Thân Cảnh Phúc và quân dân xứ Lạng đã góp sức đánh tan bọn xâm lược Tống lần thứ hai.
Thế kỷ XII , cả thế giới kinh hoàng trước vó ngựa của đế quốc Nguyên Mông. Tuy nhiên, năm 1284, khi cánh quân Nguyên qua ải Chi Lăng đã bị quân ta chặn đánh kịch liệt và tướng Nguyên qua Nghệ Thuận bị giết tại chỗ. Chính Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã thể hiện tài quân sự của ông ở đây: Bằng hố bẫy ngựa, phục binh của ta từ dưới hố dừng mã tấu phạt đức chân ngựa, tách bọn Nguyên Mông thiện chiến ra khỏi ngựa mà tiêu diệt chúng…
Thế kỷ XV, Ải Chi Lăng lại ghi vào lịch sử Việt Nam một trang chói lọi, đó là chiến thắng 1427, giết chết Nguyên Soái An Viễn hầu Liễu Thăng – chủ tướng của giặc cùng 1 vạn quân minh, góp phần quyết định kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Minh, giải phóng đất nước. Thế kỷ XVII , dưới thời Hoàng đế Quang Trung một nhà sư thiên tài, Chi Lăng lại một lần nữa cùng quân dân cả nước đánh tan tành quân xâm lược nhà Thanh… Vào cuối thế kỷ XIX và XX, Ải Chi Lăng lại chứng kiến những chiến công đánh Pháp, đuổi Nhật của quân ta.
Ải Chi Lăng đã được nhiều quan khách quốc tế, các nguyên thủ quốc gia, các tướng lĩnh, nhà sử học, khách du lịch… đến thăm với một sự trân trọng đặc biệt. Slôvắcxốc nhà dân tộc học nổi tiếng Tiệp Khắc trước đây trong chuyến đi thăm Ải Chi Lăng đã từng đánh giá.
“Có lẽ đây là chiến lũy hình thang độc nhất trên thế giới, nó thể hiện đầu óc thông minh và tài trí quân sự tuyệt vời của một dân tộc luôn phải chống trả với một đội quân xâm lược mạnh hơn mình gấp trăm lần trong quá trình lâu dài dựng nước. Thể hiện một tầm nhìn chiến lược nổi tiếng: Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”.
Tại kỳ họp thứ 9, quốc hội khoá X: Chính phủ đề xuất 3 nhóm giải pháp phát triển kinh tế.
Sau khi thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội và ngân sách. Nhà nước năm 2000, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội và ngân sách nhà nước năm 2001, quốc hội (QH) đã thảo luận, cho ý kiến về các dự án: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật Tố tụng hình sự, Luật giao thông đường bộ, Luật phòng cháy chữa cháy, luật Hải quan, trong những ngày qua, QH đã họp phiên toàn thể tại Hội trường về kết quả thực hiện nhiệm vụ KT- XH và ngân sách Nhà nước năm 2000, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ KT – XH và ngân sách năm 2000. Các đại biểu (ĐB) đã phát biểu ý kiến, gần như chỉ tập trung vào vấn đề bức xúc nhất của đất nước, lĩnh vực nông nghiệp nông thôn người nông dân và “câu chuyện chưa có hồi kết” tiêu thụ nông sản. Nhiều ĐB cho rằng hiện tượng nông dân gần như đã kiệt sức, không thể tự bơi trong cơ chế thị trường, do vậy chính phủ cần đưa ra những chính sách thật sự căn cơ ( vd: miễn giảm thuế sử dụng đất cho nông dân)
Các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cũng như chủ đề thu hút sự quan tâm của các đại biểu. Nhiều ý kiến cho rằng chương trình 135 “không thể gọi là có hiệu quả” Một số ĐB đề xuất: đối với chương trình 135, Chính phủ cần có sự điều tiết hợp lý trong phân bổ vốn đầu tư.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Công Tạn báo cáo quốc hội về 3 nhóm vấn đề kinh tế kết hợp xóa đói giảm nghèo một cách bền vững. Đó là: Quy hoạch lại dân cư, xây dựng trung âm cộng hòa và phát triển cơ sở hạ tầng nhóm 1. Phát triển sản xuất lương thực thực phẩm để đủ ăn tại chỗ, kết hợp với phát triển hàng hóa, tạo đà phát triển kinh tế địa phương nhóm 2. Nhóm 3 gồm : Nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bao gồm phát triển dạy nghề đào tạo cán bộ xã. Chính phủ coi tiêu thụ nông sản là mệnh lệnh của dân. Cũng trong hai ngày 29.5, các thành viên Chính phủ gồm Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn , Bộ Trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư Trần Xuân Giá, Bộ trưởng bộ tài chính Nguyễn Sinh Hùng, Bộ Trưởng bộ y tế Đỗ Nguyên Phương lần lượt giải trình các vấn đề nông nghiệp nông thôn, cơ cấu đầu tư, ngân sách, thuế sử dụng đất, những vấn đề y tế.
Dũng Minh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001