Hoạt động có hiệu quả nhờ đi đúng hướng

Trong những năm qua, hoạt động của Công ty liên doanh Du lịch lữ hành OSC Travel đã mang lại hiệu quả đáng khích lệ: Là một trong những đơn vị được Tổng cục Du lịch trao cúp Topten lữ hành hàng đầu Việt Nam năm 1999. Nhân dịp này, phóng viên báo Du Lịch đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Hà – Phó Giám đốc Công ty liên doanh OSC Travel.
PV: Ông có thể cho bạn đọc báo Du Lịch biết về quá trình hoạt động của Công ty liên doanh OSC Travel?
Ông Nguyễn Đức Hà: Công ty liên doanh OSC Travel được thành lập ngày 18/1/1992 theo giấy phép của Bộ kế hoạch Đầu tư. Vốn góp của OSC Việt Nam là 43%, Nhật 57%. Nhưng thực chất, từ năm 1989, OSC Việt Nam và phía S.M.I GROUP Nhật đã có hợp đồng hợp tác đầu tư góp vốn ban đầu làm du lịch lữ hành: Phía đối tác Nhật góp 37.500 USD, phía OSC Việt Nam góp 2 xe chở khách trong đó có xe 4 chỗ và 12 chỗ. Bước đầu, mỗi tháng chỉ đón được 5-7 khách, sau đó tăng dần lên 10 – 15 khách rồi 100 khách và hiện nay mỗi tháng đón khoảng 1000 khách. Qua 9 năm hoạt động, Công ty liên doanh OSC Travel đã đón được khoảng 131.900 khách với doanh số khoảng 30 triệu USD, nộp thuế cho Nhà nước 2 triệu USD, lợi nhuận của phía Nhật là 1,1 triệu USD, phía OSC Việt Nam được 856 ngàn USD.
PV: Theo ông, hiện nay có những khó khăn gì trong việc thu hút khách du lịch Nhật vào Việt Nam?
Ông Nguyễn Đức Hà: Nước Nhật hàng năm có trên 16 triệu người đi du lịch. Nhưng lượng khách du lịch Nhật đến Việt Nam chỉ chiếm gần 1% là quá ít. Sở dĩ khách Nhật đến Việt Nam chưa nhiều là do giá vé máy bay của ta cao so với Thái Lan và Trung Quốc; đội ngũ hướng dẫn viên tiếng Nhật của ta chưa nhiều, đường bay trong nước như: Huế, Đà Nẵng còn thiếu; an ninh trật tự một số nơi chưa bảo đảm; cơ sở hạ tầng ở các tuyến điểm du lịch chưa hoàn thiện. Hiện nay, khách Nhật đi tour của Công ty liên doanh chúng tôi chiếm 60%.
PV: Vậy, bí quyết nào đã mang lại thành công cho Công ty liên doanh OSC Travel?
Ông Nguyễn Đức Hà: Chẳng có bí quyết nào cả. Chúng tôi làm việc trong liên doanh với tinh thần tôn trọng nguyên tắc mà hai bên đã đề ra. Có những thực tế khách quan xảy ra nếu người Việt giải thích thì phía Nhật không thể hiểu hết. Vì vậy, chúng tôi phải nhờ những cộng sự người Nhật giải thích giùm mới được. Mặt khác, Công ty liên doanh OSC Travel đạt được thành công là nhờ đã đi đúng hướng và như nhận xét của ông Phạm Quang Duy, Chủ tịch Hội đồng quản trị OSC Travel: “Phải chọn đối tác đúng và có chuyên môn giỏi thì hoạt động của Liên doanh sẽ mang lại hiệu quả”.
PV: Xin cảm ơn ông!
Hakodate – thành phố biển ngàn vàng
Có thể nói Hakodate là một trong số ít nơi ở hòn đảo Hokkaido còn lưu giữ được dấu vết cổ xưa của người Nhật. Vào thời Edo (1603-1868) Hakodate là một hải cảng phồn thịnh nổi tiếng về buôn bán hải sản và lông thú. Khoảng vào năm 1854, Nhật Bản mở cửa giao thương với nước ngoài sau hơn 200 năm “bế quan tỏa cảng” dưới sức ép của châu u và Mỹ. Sự mở cửa này đã làm cho vịnh Hakodate phát triển nhanh chóng với nhiều hàng hóa được mang vào từ châu u, đặc biệt là nước Nga. Đó cũng là thời kỳ mà người Nhật lần đầu tiên biết đến các lò luyện sắt, phương pháp quan sát khí tượng và hiệu ăn Tây.
Ngày nay Hakodate là một thành phố du lịch nổi tiếng bởi những công trình cổ xưa mà chúng là dấu tích của những ảnh hưởng Tây phương đầu tiên. Ví dụ như những kho tàn bằng gạch hay ngôi nhà thờ Chính thống giáo Nga, nhà thờ Công giáo Motomachi và Hội trường cũ của tỉnh Hakodate xây năm 1910 ở quận Motomachi. Du khách có thể thuê xe ngựa đi thăm khu phía Tây thành phố, nếu muốn rời khỏi khu vực cảng có thể đáp những chuyến xe điện được phục chế theo kiểu thời Minh Trị. Ban đêm, nếu trèo lên đỉnh núi Hakodate để nhìn xuống, du khách sẽ thấy toàn thành phố sáng rực rỡ, trải dài như những dải Ngân hà bởi hàng nghìn ngọn đèn lấp lánh. Một số du khách nước ngoài đã cho rằng cảnh đêm ở đây đẹp nhất thế giới trong khi một vài người khác gọi nó là cảnh Ngàn vàng.
Cách thành phố khoảng 40 phút ngồi ô tô, du khách có thể thăm công viên quốc gia Onuma với cảnh núi lửa và hồ nước nên thơ hoặc tắm suối nước nóng Yunokawa. Đây cũng là nơi thu hút rất đông khách du lịch đến từ vùng khác nhau trên thế giới.
Ở Hakodate còn có chợ sớm họp từ 4 giờ sáng cho đến trưa, có khoảng hơn 400 địa điểm, quầy hàng và hiệu ăn trưng bày đủ loại rau, hoa quả và hải sản. Đặc biệt là món cá mực được đánh từ vịnh của thành phố. Nếu bạn đến đây vào mùa Xuân sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt vời của hoa anh đào ngay trong công viên của thành phố, ngược lại vào mùa hè hay mùa thu, bạn lại được thấy vẻ duyên dáng của những đèn tàu câu mực suốt đêm của vịnh này. Song dù đến đây vào bất cứ thời gian nào thì du khách vẫn nhận sự đón tiếp vui vẻ, cởi mở và chân tình của người Hakodate. Đó cũng là niềm tự hào của người dân thành phố cảng có một không hai ở Nhật Bản này.
Mạnh Hùng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001

Nước khoáng Bang – Tặng vật của thiên nhiên

Ngược dòng sông Kiến Giang thơ mộng khoảng 10 cây số, tính từ trung tâm huyện lỵ Lệ Thuỷ là đền mỏ nước khoáng nóng suối Bang. Nơi đó du khách như lạc vào giữa thiên nhiên đầy sương khói do hơi nuớc từ nguồn suối Bang tạo nên. Khoáng Bang là nguồn nước sôi tự nhiên đến 105 độ C mà nhà thơ Hoàng Vũ Thuật đã ca ngợi:
Nước sôi vạn kỷ hãy còn sôi
Kìa ai vén áo thiên nhiên thế
Cho đất phô bày giọt sữa tươi…
Theo tài liệu nghiên cứu của Giáo sư Hà Như Phú – Trường Đại học Dược Hà Nội thì nước khoáng Bang có tác dụng dược lý tốt. Khi dung để uống sẽ chưa trị một số bệnh lí như tăng nhuận tràng, tăng tiết mật, tăng tuần hoàn của gan và ảnh hưởng tốt đến sự điều chỉnh rối loạn như mô gan, rất tốt đối với người có bệnh tiểu đường tiêu hoá, làm giảm đường huyết của bệnh nhân đái đường. Khi tắm , ngâm có tác dụng làm giảm huyết áp rõ rệt nhất là những trường hợp tăng huyết áp bệnh lí, tăng quá trình ôxy hoá, làm lành vết thương và chữa trị tốt vói một số bệnh ngoài da. Khi xông, hít có tác dụng giảm mẫn cảm và sát trùng gây xung huyết niêm mạc đường hô hấp, làm bong các sản phẩm bệnh lí đường hô hấp, làm bong các sản phẩm bệnh lí đường hô hấp… Nước khoáng Bang có thành phần vi lượng khoáng tổng hợp thuộc nhóm Nảti Bicacbonat, tương đương với thành phần một số nguồn nước khoáng nổi tiếng trên thế giới như BOEZOL (Grudia), VICHT (Pháp), WIBADEN (Đức)… Chính từ những phát hiện đó, không để cửa “của báu trời cho” vũng vãi, nên Công ty nước khoáng Bang ra đời, đưa nguồn nước khoáng nóng quí hiếm này hoà cùng dòng chày của thị trường đồ uống Việt Nam để phục vụ nhu cầu giải khát, chữa bệnh cho con người.
Theo ông Võ Thế Thuận – giám đốc Công ty nước khoáng Bang cho biết: trên dây chuyền xử lý và đóng chai hiện đại, đồng bộ hang B&C Italia được chế tạo bằng loại thép không gỉ, vận hành tự động khép kín, công ty đã tung ra thị trường một loại sản phẩm, mẫu mã khác nhau đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng. Từ loại nước khoáng có ga chai thủy tinh, chai nhựa Pet có dung tích 460ml, 500ml đến nước khoáng không ga chai nhựa Pet dung tích 500ml, 1500ml và bây giờ là “bình” nhựa Pet không ga 20 lít để phục vụ tạn hộ đến từng gia đình.
Kết quả tất yếu của một sản phẩm: mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, giá thành… bình dân nên “tiếng thơm” bay xa. Truớc đây nếu nước khoáng Bang chỉ quanh quẩn ba tỉnh Bình – Trị – Thiên thì bây giờ đã phủ khắp miền Trung, mở rộng ra đến Hà Nội, Hải Phòng và kéo thẳng một vệt dài lên tận các tỉnh biên giới phía Bắc. Sản lượng từ 3 đến 7,5 triệu lít/năm và kế hoạch của dự án đang nâng lên 15 triệu lít/năm.
Ngoài nguồn nước khoáng kỳ diệu, suối Bang còn có một địa điểm thu hút du lịch tham quan du lịch. Nếu Phong Nha hấp dẫn khách bởi kiến trúc thiên nhiên kỳ vĩ thì suối Bang lại lôi cuốn du khách bởi cảnh sắc nên thơ huyền ảo. Bên dòng nước khoáng nóng sôi sung sục, mịt mù hơi nước, du khách có thể mượn nguồn nước để làm chín mọi thứ mà không cần dung đến lửa. đúng là một tặng vật của thiên nhiên dành cho mảnh đất Quảng Bình khiến cho những ai khi rời khỏi suối Bang luôn mang theo niềm nuối tiếc.
Chỉ một lần thôi suối Bang ơi.
Mà yêu thêm gió nhớ thêm trời
Chén nước uống xong kỳ diệu quá.
Như là môi đã chạm vào môi….
Trần Vỹ Dạ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 10(175)2001

Góp ý vào Dự thảo Báo cáo chính trị

Cần đầu tư thỏa đáng cho du lịch.
Thực hiện chỉ đạo của Ban chấp hành Đảng ủy cơ quan tổng cục Du lịch và Công đoàn ngành thương mại – du lịch, Ban chấp hành Công đoàn cơ quan Tổng cục du lịch đã tổ chức cho các đoàn viên chưa phỉ là Đảng viên đóng góp ý kiến vào Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đảng lần thứ IX. Hầu hết các công đoàn viên đều nhất trí với nội dung của Dự thảo và đưa ra những ý kiến đóng góp tập trung vào những vấn đề sau đây:
Về phần xây dựng Đảng: Xuất phát từ nhận thức Đảng ta là Đảng cầm quyền, chịu trách nhiệm cao nhất về vận mệnh đất nước và dân tộc, nhiều ý kiến cho rằng đội ngũ Đảng viên phải đông về số lượng nhưng phải xứng đáng như Bác Hồ: “Đảng viên là người đầy tớ trung thành của dân, do dân và vì dân”.
Ngoài việc ra những Nghị quyết chung, Đảng cần có chỉ tiêu kết nạp Đảng viên mới cho từng cơ sở Đảng; cần có kỷ luật thích đáng, thậm chí khai trừ ra khỏi Đảng những Đảng viên có tư cách hoặc có sai phạm để Đảng viên thực sự là những tấm gương về phẩm chất đạo đức, lao động, học tập cho quần chúng noi theo.:
Đề nghị xem xét lại phần mở đầu vì qua bức tranh toàn cảnh và bức tranh cụ thể về cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX chưa nêu bật được sự hát triển vững chắc của xã hội Việt Nam và con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tương lai.
Về phần “Đẩy mạnh cải cách và hoàn thiện Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế: Nhiều ý kiến cho rằng Dự thảo cần nêu lên các biện pháp cụ thể để xây dựng được nhà nước Pháp quyền Xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân. Dự thảo nêu lên nội dung mở rộng dân chủ ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị đến văn hóa – xã hội chứ không phải ở 2 mục phần X như trong Dự thảo. Đối với tệ nạn tham nhũng, đề nghị Đảng và Nhà nước ta đưa ra những giải pháp cụ thể.
Đối với sự phát triển của ngành du lịch: Để ngành Du lịch sớm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, ngay trong những năm đầu của thế kỷ 21, các đoàn viên công đoàn rất mong Đảng và Nhà nước có chính sách đầu tư thỏa đáng cho du lịch từ khâu xây dựng cơ sở vật chất, khâu đào tạo cán bộ đến công tác tuyên truyền quảng bá. Đồng thời, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích đầu tư trong hoạt động du lịch có thể năng cao chất lượng dịch vụ và thực sự trở thành ngnh kinh tế mũi nhọn của Việt Nam.
100 dự án kêu gọi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Hiện nay, Bộ kế hoạch và Đầu tư đang hoàn thành danh sách kêu gọi vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài; gồm khoảng 100 dự án về dầu khí, cơ khí dệt may, điện và thiết bị điện, hóa chất, phan bón, khoáng sản, nông nghiệp và phát triển nông thôn, viễn thông, du lịch và dịch vụ… Bộ đang lấy ý kiến đóng góp của nhiều đơn vị có liên quan trong nước khi trình Chính phủ phê diệt.
Tăng 20% vốn đầu tư trong nước.
Năm 2001, Việt Nam dự định tăng 20% vốn trong nước (khoảng 15.000 tỷ đồng, tương đương 10,34 tỷ USD và tăng 30 % tổng sản phẩm quốc nội GDP nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tê. Chính phủ sẽ đầu tư 2,7 nghìn tỷ đồng (186,2 triệu USD) để hát triển mạng điện ở 671 xã thuộc 32 tỉnh rong cả nước. Ngoài ra, Chính phủ sẽ điều chỉnh các kế hoạch sản xuất lúa gạo, cà phê, tiêu, điều nhằm đảm bảo an toàn lương thực và xuất khẩu, trợ giúp nhân dân ở Đồng bằng sông Cửu Long, nuôi tôm ở vùng ven biển miền Trung.
Nguyễn Quỳnh Hoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176)2001

Ai về Hà Tĩnh – Phần 2

Đây là di tích, danh lam – thắng cảnh mang nhiều yếu tố lịch sử có tính chất văn hoá truyền thống. Dưới chân núi Hồng Lĩnh còn có chùa Chân Tiên, một trong 10 cảnh đẹp của núi Tiên Am, ngọn cuối cùng của dãy Ngàn Hồng. Đây cũng là một ngôi chùa được gắn với truyền thuyết nơi giáng thế.
Theo hướng Tây – Nam du khách sẽ đến đựơc khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, nơi đang bảo tồn nhiều loại động vật, thực vật phong phú. Một hồ Kẻ Gỗ với trữ lượng 35 triệu m3 nước là nguồn cảm hứng vô tận của bao nhiêu tâm hồn văn thơ. Đến đây, khách du lịch sẽ may mắn có dịp được chèo thuyền ngắm cảnh hồ trên núi thật thơ mộng, chèo thuyền, câu cá, nghiên cứu sinh vật và thưởng thức không khí mát lạnh thấm đẫm mùi cỏ cây thơm ngát.
Cũng theo hướng Đông – Nam, cách thị xa Cẩm Xuyên 14 km, khách du lịch tới biển Thiên Cầm. với chiều dài hơn 2 km, sống biển êm đềm, Thiên Cầm có bờ quá cát nguyên sơ mịn màng, làn nước trong vắt ngay đêm vỗ về những bãi tắm thơ mộng làm say lòng người.
Ngoài thú vui tắm biển, khách du lịch đến Thiên Cầm còn được tham quan di tích hang động Hồ Quý Ly, chù Thiên Cầm, chùa Yên Lạc… và được nghe tiếng Đàn Trời thánh thót ngày đêm.
Từ Cẩm Xuyên theo tuyến vào Nam mời du khách đến Kỳ Anh, vùng đất cuối cùng của quê hương Hà Tĩnh, có cảnh đẹp Đèo Can – Đèo Ngang đã đi vào sử sách thơ ca. Với độ cao 256m và chiều dài 6 km có Hành Sơn quan, trước đây về phía Bắc có 980 bậc đá và xuôi về Nam 900 bậc. Cảnh quan Hành Sơn đã được triều đình nhà Nguyễn đúc lên mặt Cửu Đỉnh tại điện Thái Hòa (cố đô Huế).
Hà Tĩnh vùng đất có nhiều di tích lịch sử, danh lam – thắng cảnh, còn là quê hương có truyền thống kiên cường chống giặc ngoại xâm. Mảnh đất này có một ngã ba đã đi vào lịch sử ngã ba Đồng Lộc.
Đây cũng là quê hương của các nhà hoạt động cách mạng: Trần Phú, Hà Huy Tập, Lý Tự Trọng, Nguyễn Thị Minh Khai… vùng đất nghĩa khí này cũng đã cống hiến cho đất nước những người con ưu tú, những anh hùng lỗi lạc như: Mai Thú Loan, Đặng Tất – Đặng Dung, Phan Đình Phùng, Cao Thắng…
Quê hương Hà Tĩnh có quá trình hội tụ và phát triển văn hóa dân dân tiêu biểu ở đây là những làn điệu dân ca mượt mà, ấm áp: ca trù cổ đạm. ví phường vải, ví dặm đò đưa… Đây còn là quê của những đặc sản nổi tiếng như: cam bù Hương Sơn, hồng vuông Thạch Hà, quýt ngọt Kỳ Anh, bưởi Phúc Trạch, nón lá Ba Giang, nước mắn và cá mực khô Cẩm Nhượng, Cẩm Xuyên…
Từ những hiểu biết về điều kiện tự nhiên, hệ cảnh quan môi trường, con người và tiềm năng du lịch, quí khách có thể thực hiện chuyến du lịch trên quê hương Hà Tĩnh để nghỉ ngơi, giải trí, tắm biển, nghiên cứu khảo cổ, chiêm ngưỡng thắng cảnh – danh lam và thưởng thức các loại đặc sản. đây không chỉ nâng cao nhận thức mà còn là điều thiết thực cải thiện đời sống tinh thần và vật chất cho mỗi người.
Thúy Trân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 10(175)2001

Ai về Hà Tĩnh – Phần 1

Hà Tĩnh tuy diện tích không rộng lắm, nhưng có đủ các dạng địa hình: rừng núi cao, gò đồi, đồng bằng trung du và 137 km bờ biển với những bãi cát trắng sạch mịn, làn nước trong xanh. Mỗi vùng đều có những tiềm năng, thế mạnh riêng cả về kinh tế, văn hóa và du lịch.
Công cuộc giữ nước đã để lại trên địa bàn tỉnh hàng chục thành quách đồ sộ, nhất là bức lũy cổ được đắp ghép từ thế kỷ thứ 4 trên dãy Hoành Sơn. Dãy Trường Sơn ở phía tây Hà Tĩnh cao vút phủ rừng đại ngàn với nhiều loại chim muông và thú quý; động, thực vật phong phú về giống và loài. Các con suối con sông, có độ dốc cao dòng chảy mạnh, nước trong vắt và lòng suối có nhiều đá cuội. Đặc biệt núi Hồng Lĩnh 99 ngọn như bức trường thành, nơi đây có trên 100 ngôi đền, chùa, miếu và dòng sông La hiền hòa là điểm hội tụ của Ngàn Phố – Ngàn Sâu, hai khúc hát trữ tình gặp nhau ở bến Tam Soa.
Toàn tỉnh Hà Tĩnh hiện có 259 di tích, trong đó có 53 di tích đã được xếp hạng và trên 20 điểm có thể khai thác du lịch rất tốt. mỗi vùng, mỗi địa danh ở miền quê này đều mang 1 vẻ đẹp riêng, sẽ lưu lại cho du khách những ấn tượng sâu sắc về quê hương và con người của cố đô Việt thường.
Từ phương Bắc vào Hà Tĩnh, vùng đất đầu tiên mà bạn đặt chân đến là mảnh đất Nghi Xuân, nơi có Núi Hồng soi bong xuống dòng La trong xanh và nuôi dưỡng tâm hồn đại thi hào Nguyễn Du. Ngày nay ở đây còn lưu lại cả quần thể di tích của dònh họ Nguyễn Tiên Điền từ nhà thờ, nhà tư văn, vườn lưu niệm là nơi các bậc khoa bảng từng bình văn hàng trăm năm về trước, đến ngôi mộ cụ Nguyễn Tiên Sinh. Trong tương lai các dự án về đầu tư, tôn tạo thực thi, thì khu di tích này sẽ ngang tầm với tên tuổi của Đại thi hào, cũng như nhà thờ, bia đá, phong cảnh nước non… để làm sống lại những câu thơ xưa. Cạnh đó bến Giang Đình nhìn ra cửa bể là quê hương và nơi an nghỉ cuối cùng của nhà thơ lớn, nhà kinh tế Nguyễn Công Trứ. Nơi đây vẫn còn cả di tích nhà thờ, lăng mộ của thân sinh Nguyễn Công Trứ mộ phần của ông .
Đi về hướng Đông – Nam chừng 14 km , du khách sẽ đến được một vùng biển phẳng mịn, dịu êm, làn nứơc trong xanh cùng những rặng phi lao xanh tốt. Đó là Xuân Thành – vùng đất có những bãi tắm làm nao lòng người, cũng như đặc săn biển thật khó quên cho ai đó đãmột lần thưởng thức.
Đến với quần thể di tích sông La – núi Hồng khách du lịch còn có dịp được vãn cảnh đến chợ Củi, một ngôi đền rất linh thiêng mà hiện tại còn lưu giữ được những nét độc đáo, những kỉ vật quí và là ngôi đền Mẫu đệp nhất Hà Tĩnh. Hàng năm, đền Chợ Củi đón hàng vạn lượt khách đến dâng hương lễ hội, cầu lộc cầu tài. Từ Nghi Xuân xuôi vào Nam, du khách hay dừng chân trên quê hương Can Lộc, nơi có chùa Hương Tích, chùa thuộc xã Thiên Lộc, đuợc xây dựng từ thế kỷ XIV đời nhà Trần trên ngon núi cao và đẹp nhất của dãy Ngàn Hồng.
Thúy Trân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 10(175)2001

Thành viên của chi hội Pata Việt Nam

Công ty Du lịch Dịch vụ dầu khí Việt Nam (OSC VIET NAM) là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng cục du lịch được thành lập ngày 23/6/1977.
Sau hơn 23 năm đi vào hoạt động kinh doanh, OSC VIET NAM không ngừng phát triển cả về quy mô cũng như phạm vi hoạt động, kinh doanh trên các lĩnh vực chính; du lịch, dịch vụ dầu khí lắp, xây lắp, xuất nhập khẩu, xuất khẩu lao động có thời hạn, với trên 15 ngành nghề khác nhau. OSC VIET NAM, ngoài trụ sở chính ở thành phố Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) còn có chi nhánh ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay OSC VIET NAM có 11 đơn vị trực thuộc, 7 đơn vị liên doanh với nước ngoài, 1 công ty cổ phần . Tổng giá trị tài sản của các sơn vị trực thuộc OSC VIET NAM là hơn 100 tỷ đồng, gồm 12 khách sạn (trong đó có 4 khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao, 5 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao), 1 khu căn hộ cao cấp, 36 biệt thự với tổng cộng gần 1.000 phòng ngủ và nhiều thiết bị chuyên dụng hiện đại cùng các kho tàng bãi khác. 7 dự án đầu tư nước ngoài liên doanh với OSC VIET NAM có tổng số vốn lên tới 60 triệu USD, vốn pháp định 25 triệu USD trong đó OSC VIET NAM góp 25,3% tương đương 6,3 triệu USD, hoạt động trên các lĩnh vực: Dịch vụ, y tế, công nghiệp…
Năm 2000, OSC VIET NAM đã đẩy mạnh tiếp thị trên các lĩnh vực kinh doanh và mở thêm nhiều loại hình dịch vụ nên đã mang lại hiệu quả kinh doanh dịch vụ dầu khí, kinh doanh khách sạn, xây dựng, hàng hóa… Các cơ sở lưu trú của OSC VIET NAM đã phục vụ 98.011 lượt khách với 167.364 ngày khách, trong đó có 23.065 lượt khách quốc tế với 70.363 ngày khách; công suất buồng giường đạt 5,03% so với năm 1999. Trong kinh doanh lữ hành, OSC VIET NAM đã khai thác được 61.130 lượt khách quốc tế. OSC Travel – đơn vị liên doanh của OSC VIET NAM chuyên kinh doanh lữ hành quốc tế luôn đạt hiệu quả cao và là một trong những đơn vị Top Ten lữ hành quốc tế năm 1999 và 2000. Năm 2000 là năm OSC VIET NAM hoàn thành tốt chỉ tiêu kế hoạch của Tổng cục Du lịch giao, với việc thực hiện tổng doanh thu 365 tỷ đồng (tăng 17,17% so với kế hoạch); trong đó, khối trực thuộc thực hiện được 193 tỷ, nộp vào ngân sách Nhà nước 32,2 tỷ đồng chưa tính thuế xuất khẩu nhập khẩu (các đơn vị trực thuộc nộp 22,2 tỷ đồng) tăng 28,75% kế hoạch. Cùng 12,6 tỷ đồng lợi nhuận, Công ty còn giải quyết việc làm gần 2000 lao động với mức thu nhập bình quân 1.00.000 đồng/người/tháng.
Không chỉ thực hiện tốt các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, nhiều năm qua, OSC VIET NAM còn thực hiện tốt các chính sách, phong trào xã hội tại địa phương như: phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam Anh Hùng, tài trợ cho các trại trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật, tài trợ cho các trường mẫu giáo, xây dựng nhà tình nghĩa,… Với những thành quả của quá trình phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, OSC VIET NAM đã được nhà nước trao tặng nhiều huân chương, huy chương cao quý.
Là thành viên của Chi hội PATA từ tháng 12 năm 1994, OSC VIET NAM không ngừng phát huy thế mạnh của mình, mở rộng thị trường của mình thu hút khách, tạo dựng vị thế và uy tín của công ty trên thị trường trong và ngoài nước, đồng thời góp phần xây dựng Chi hội PATA Việt Nam ngày càng vững mạnh., xây dựng ngành du lịch Việt Nam xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn, đủ thế và lực hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Mạnh Hùng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 7(172)2001

Trường Trung học nghiệp vụ du lịch Hà Nội

Trường Trung học nghiệp vụ du lịch Hà Nội không ngừng nâng cao quy mô đào tạo
Sau khi nâng cấp và bổ sung cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo, kể từ năm 1998 – 1999 đến nay, Trường Trung học nghiệp vụ du lịch Hà Nội đã luôn mở rộng quy mô đào tạo, số học sinh tuyển mới điều tăng hàng năm. Năm học 1998 – 1999, nhà trường tuyển được 1.100 học sinh, con số đó tăng lên 1.460 học sinh vào năm học 1999 -2000, và 1.673 học sinh vào năm 2000 – 2001. Ngoài ra số học sinh chính khóa, năm học 2000 – 2001, Nhà trường đã tuyển thêm 191 học sinh theo chương trình của Luxembourg, đưa tổng số theo học trường hiện nay là 2.671 học sinh (kể cả học sinh năm thứ 2).
Năm 2000 Trường Trung học – nghiệp vụ du lịch Hà Nội đã tổ chức nhiều hoạt động nghiệp vụ như: Hội thi giáo viên dạy giỏi và đăng cai Hội thi giáo viên dạy giỏi toàn quốc, đưa 1.200 học sinh đi thực tập tại các doanh nghiệp… Nhà trường đã phối hợp với các Sở Du lịch, các doanh nghiệp tổ chức thành công các lớp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ tại các địa phương, với tổng số 981 học sinh. Đào tạo giúp ngành Du lịch Campuchia 2 khóa bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý du lịch với hơn 30 học viên.
Trường Trung học nghiệp vụ Du lịch Hà Nội đã quyết định kế hoạch công tác năm 2002: Làm tốt công tác tuyển sinh mới vào các lớp chính khóa trong năm học 2001 – 2002; chuẩn bị kỳ thi tốt nghiệp năm 2001 để đạt 100% số học sinh dự tốt nghiệp với kết quả cao, tiếp tục xúc tiến việc nâng cấp để trở thành Trường cao đẳng Nghiệp vụ Du lịch Việt Nam; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác đào tạo của Nhà Trường, đổi mới, hoàn thiện chương trình giảng dạy, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên.
Tháng 1/2001 xuất khẩu tăng 0,5%, nhập khẩu tăng 8,7%
Tháng 1/2001, kim ngạch xuất khẩu của cả nước tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu dầu thô tăng 14,5% về số lượng và tăng 37,8% về giá trị, hang thủy sản tăng 54,9%, điện tử – máy tính tăng 22,8% , hang thủ công mỹ nghệ tăng 13,6%, rau quả tăng 9,1% … Đặc biệt, xuất khẩu giày dép giảm 31%, cà phê giảm 18,4% về số lượng giảm 61,3% về giá trị…
Tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước, so với khu vực kinh tế trong nước 12,9%. Đạt mức tăng nhập khẩu cao nhất là phân Urê với 120.000 tấn, trị giá 15 triệu USD, tăng 60% về số lượng và gấp 2,14 lần về giá trị; xe máy lắp ráp 150.000 bộ, trị giá 51 triệu USD, tăng 2,17 lần về số lượng và 27,5% về giá trị.
Vấn đề quan tâm nhất trình xuất, nhập khẩu hiện nay là vẫn bế tắc về xuất khẩu hàng nông sản về nhập khẩu ô tô, xe máy.
Khai thác tuyến cáp viễn thông quốc tế 7.000 km
Việt Nam bắt đầu khai thác cáp Viễn thông đất liền đầu tiên dàu 7.000 km nối giữa Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Malaysia và Singapore. Đây là tuyến cáp quan quốc tế thứ 3 vào Việt Nam. Trước đó, có tuyến cáp quang biển TVH (Thái Lan – Việt Nam – Hồng Kông) và tuyến cáp quang biển SEA-ME-WE 3 với sự tham gia của 34 nước ở Châu u, Á và Mỹ. Tuyến cáp quang này có đoạn cáp đi qua Việt Nam dài khoản 600km.

Tiến Hào – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 7(172)2001

Khúc đồng giao tre lá – Phần 2

Mấy năm gần đây muốn có được những tấm lá trắng muốt để chằm nón thật không dễ dàng như nhiều năm trước. Anh Huỳnh Văn Nhị, một cán bộ ở Ủy ban Nhân dân huyện Hoài Ân – địa phương có nguồn lá nón phong phú nhất ở Bình Định cho biết: “Những người đi chặt lá ké, lá nón thường là dân của các làng nón. Những năm trước rừng lá còn rất rậm, không ai có thể nghĩ rằng lại có lúc không còn tìm thấy lá trắng ở n Phong, n Tường… vậy mà nay điều ấy đã xảy ra, rừng Hoài n bị phá nhanh quá, cây lá trắng cũng bị chặt vô tội vạ. Lá làm nón được khai thác phải là loại còn nguyên búp, thớ lá cong trắng tinh nõn nà, mấy năm dân Tây Nguyên ùn ùn trồng cà phê, cao su, lá trắng bị chặt phá quá cỡ, cây không kíp lớn nên quặt quẹo rồi chết hàng loạt. Bây giờ muốn chặt lá phải đi vào tận trong rừng sâu ở n Nghĩa, Đakmang, BokTới mới có. Ở đây rừng lá nón, lá ké nằm xen giữa những truôn mây mịt mùng, dưới những tán lá rừng đại ngàn hùng vĩ. Người chặt lá bị thương trong lúc bạn bè thì đi bứt mây không co người tiếp cứu, bị rắn cắn chết khi đang ngủ trên võng không phải là hiếm. Mà dẫu có thì khiêng ra khỏi rừng sâu cũng không kịp, không ít người đã vĩnh viễn ở lại với rừng sâu”.
Sau trận lũ khủng khiếp ở Hoài n xảy ra hồi cuối tháng 11/1999, dường như người ta đã bắt đầu ý thức rằng cái giá phải trả khi bội bạc với thiên nhiên là vô cùng đắt. Trên những đồi lá trắng, trên những vạt rừng thưa Hoài n mới ngày nào còn mênh mông những bụi lá giờ đây nham nhở những đường xâm thực, phô lên sắc đỏ của đất đồi khắc nghiệt. làng nón rồi sẽ phải long đong vì thiếu nguyên liệu. Rồi có còn không những chiếc nón ngựa Gò Găng?
Cùng mua sắm lều trại du lịch
Hiện nay, các cửa hàng cho thuê lều trại du lịch xuất hiện khá nhiều. Lều cho thuê đủ kích cỡ, chủng loại, từ 8 – 30 người/ lều. Chất liệu bằng vải bạt và dù. Lều trong nước sản xuất có kích thước cho nhiều người thì chưa có nhiều mà phải là hàng nhập, giá khoảng 140 USD cho một lều 22 chỗ. Lều trại có diện tích từ 5 – 25m2 phù hợp với chuyến píc níc của gia đình hay tập thể. Nó có thể che mua nắng, chống rắn rết và muỗi. Lều sản xuất tại Hà Nội được cho thuê với giá 30.000 đông/ ngày, hàng ngoại diện tích lớn hơn, giá khoảng 90.000 đồng/ ngày. Bạn thuê nhiều, các cửa hàng thường giảm giá hay cho thuê miễn phí một lều ăn 5m2 và không phải đặt tiền mà chỉ đặt bằng lái xe hay chứng minh thư. Lều trại thường được bán tại các cửa hàng lớn, giá từ 350.000 đến hơn 2 triệu đồng. Bạn muốn tìm thuê có thể đến một vài địa chỉ như: đường Nguyễn Chí Thanh – Đống Đa, đường Đại Mỗ – TX. Hà Đông, Thị trấn Yên Viên…
Bá Phùng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.

Khúc đồng giao tre lá – Phần 1

Nghề chằm nón tồn tại ở rất nhiều địa phương của mọi miền đất nước nhưng nón ngựa thì chỉ có ở làng Phú Gia (Bình Định).
Thứ nón đẹp như một tác phẩm nghệ thuật độc đáo này, ngày xưa chỉ những nhà giàu, quan lại mới đủ khả năng mua dùng. Những người già trong làng nón Phú Gia (Cát Tường, Phù Cát, Bình Định) kể rằng: Ngày xưa có lệ cứ đến kỳ cuối năm, làng nón lại tổ chức một kíp thợ tài hoa, chọn vật liệu làm hàng trăm chiếc nón dành riêng tiếng vua. Thời nhà Nguyễn, loại nón tiến thường được vua dành riêng để ban thưởng cho phi tần và một số quan lại có công. Ông Phan Thành Diêu, một nghệ nhân chuyên làm nón ở Hòa Dõng (Phù Cát) cho biết: “Gọi nón Gò Găng là nới theo tên địa phương bán nón, chứ thật ra nơi sản xuất là Cát Tân và Cát Tường, nón làm xong thường được người ta tập trung về chợ Gò Găng gần quốc lộ để bán, lâu này “chết” tên luôn. Nón Gò Găng có hai loại: nón ngựa và nón lá. Nón lá được sản xuất hàng loạt, quy trình kỹ thuật hầu như không khác với nón Huế, nón Quảng nhưng được cái nhẹ và bền hơn. Vì thế, dù hiện nay chiếc nón không còn giữ được vị trí như xưa nữa, nhưng nón lá Gò Găng làm ra bao nhiêu vẫn cứ bán hết bấy nhiêu, chỉ có điều giá ăn hàng không được cao, bình quân chỉ được 5.000 – 10.000 đồng/ cái. Nón ngựa thì công phu hơn, và hầu như chỉ những nghệ nhân lão luyện ở Phú Gia mới làm được. Những năm gần đây, loại nón này chủ yếu bán cho những ai muốn tìm lại nét xưa, cho khách du lịch và sản xuất theo hợp đồng của thương lái, chứ không ai làm sẵn như nón lá, vì giá nón ngựa khá cao tới 40.000 – 50.000 đồng/ cái…”.
Trên đường tìm đến làng nón, ấn tượng đập vào mắt tôi là không khí nhộn nhịp khắp các nẻo đường làng hầu như nơi nào cũng có người chẻ lá, chuốt nan, chằm nón dưới bóng mát của những lũy tre, dưới gốc xoài, gốc đào. Ông tám, một nghệ nhân chuyên làm nón ngựa ở Phú Gia – Cát Tường kể: “Dạo trước, một người Nhật tên là Todo Yashimoto đến đây quay phim về nghề chằm nón, quan sát tôi kết nan, lợp nón ông cứ tâm tắc – cứ như một điệu múa của tre trúc và lá cỏ. Ông này cũng như nhiều du khách khác thường tỏ ra thích thú khi biết rằng ngày xưa quân đội Tây Sơn của Hoàng đế Quang Trung cũng từng dùng thứ nón gần như thế này. Nón ngựa Gò Găng đẹp và độc đáo từ cách chế tạo đến các họa tiết trang trí sẽ hiện dần lên. Lợp xong chiếc nón ngựa vừa ý, đôi lúc chỉ muốn tìm được người có dáng vẻ thanh nhã mà tặng thôi. Thứ nón này ngó thì dày, và có vẻ nặng nhưng khi đội lên thì thấy mát và nhẹ lắm.”
Nón lá và nón ngựa Gò Găng ban đầu chỉ là những vật dụng rất bình thường trong cuộc sống. Thăng trầm lịch sử, xã hội đã làm giảm đi của nó một vài giá trị ở lĩnh vực này nhưng cũng làm phát sinh những giá trị mới ở các lĩnh vực khác. Chủ đại lý nón T.H ở Đập Đá cho biết: “Vài năm trước, nón lá kè của Bình Định được bán vào thành phố Hồ Chí Minh để họ xuất sang Indonesia, malaixia… dùng làm mái che co cây cao su con, mỗi lần xuất cả xe chừng 20.000 – 30.000 cái. Dạo ấy người làm nón sống khá lắm, bình quân thu nhập 15.000 – 20.000 đồng/ ngày là thường. Gần đây nông dân trên Tây Nguyên cũng xuống đặt nón cỡ nhỏ, chất lượng vừa phải để về che cà phê, cao su con”.
Bá Phùng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.

Lại nói về Hội An

Hội An, di sản văn hóa được UNESCO công nhận đã là một đề tài của rất nhiều bài báo, nhiều phóng sự truyền hình ghi nhận những cố gắng lớn lao và những nét đẹp thuần phát của những đô thị cổ này. Người dân Hội An và nhân dân tỉnh Quảng Nam tự hào về quê hương mình đã có một Hội An, một điểm sáng về văn hóa được cả nước và thế giới biết đến. Quả thực là chỉ trong một thời gian ngắn từ cuối năm 1999 đến cuối năm 2000, Đảng bộ và nhân dân Hội An đã đón nhận được những danh hiệu cao quý cả trong nước và trên thế giới.
Tôi nhớ là trước cơn lũ lịch sử cuối năm 1999 hơn 48 giờ. Hội An đón nhận danh hiệu di sản văn hóa tổ chức UNESCO. Hồi đó Hội An chưa kịp vui niềm vui trọn vẹn thì đã phải gồng mình lên chống chọi với lũ lụt và cũng đã đạt được một thành tích xuất sắc không thể xảy ra chết người và bảo vệ được các di tích cổ không bị nước lũ tàn phá. Rồi đến năm năm 2000 đã gây một ấn tượng mạnh đối với nhân dân thị xã và đối với các khách mời, khách du lịch Á, u. Vào giữa năm Hội An lại đón nhận danh hiệu anh hùng lao động vào tháng tháng 10 năm 2000 lại được Tổ chức bảo vệ di sản thế giới tặng giải thưởng về thành tích bảo vệ văn hóa di sản… Người xưa bảo: “Phúc bất trùng lai” nhưng nói tới Hội An thì quả là trong một thời gian ngắn đã đón nhận bao nhiêu là niềm vinh dự, là niềm vui mà toàn là niềm vinh dự, niềm vui to lớn và quan trọng.
Đối với tôi, Hội An là một đất nước quen thuộc, thân thương từ những năm tháng về nhận công tác ở Quảng Nam- Đà Nẵng. Và sau này khi đã ra công tác ở Trung ương mỗi lần về thăm lại Hội An tôi lại thấy có thêm một điều mới trong xây dựng, trong tổ chức quản lý, trong việc phát huy lợi thế của đô thị cổ. Cái đáng mừng là những đồng chí lãnh đạo ở thị xã đã có một sự đoàn kết nhất trí, một sự hiểu biết về vùng đất và con người mà mình đã gắn bó để từ đó luôn có những suy nghĩ sáng tạo ra các hoạt động phong phú để tô đậm nét văn hóa truyền thống của Hội An.
Vào đầu tháng 11 năm 2000, trong lần về tiếp xúc cử tri, tôi lại có dịp thăm Hội An. Bây giờ Hội An đã có thêm du lịch Victoria liên doanh với nước ngoài; khu du lịch biển của khách sạn Hội An và Khách sạn Sông Hội An của doanh nghiệp tư nhân. Ngân sách của Hội An, vì sự lịch sự của người dân Hội An, vì cảnh quan trời biển và vùng sinh thái Hội An … Đó là điều đáng mừng nhưng cũng đặt ra những vấn đề cần phải lưu ý chú ý trong hướng đi lên của đô thị này. Trong công cuộc một cuộc trao đổi với anh Nguyễn Đình An, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thị xã Hội An sang dự lễ nhận giải thưởng về bảo vệ di tích văn hóa của Hội An tại Nhật Bản, chúng tôi đã rất thống nhất về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc của đô thị cổ Hội An trong xu thế mở cửa hiện nay.
Trước hết là Hội An không thể chạy theo cái lợi trước mắt mà phải nâng cao chất lượng du lịch lên cao và phục vụ tốt hơn. Phải giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh đã có, đã được tín nhiệm vì đó là điểm hấp dẫn du khách Hội An. Hội An đã có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này, nhưng cũng phải thường xuyên rút kinh nghiệm trong việc tổ chức quản lý, trong việc tăng cường giáo dục truyền thống, nếp sống của người dân ở đây. Và điều đó phải được thực hiện từ trong mỗi gia đình, mỗi trường học, mỗi cơ quan, mỗi tổ chức xã hội.
Cái quan trọng là phải luôn luôn hâm nóng niềm tự hào và truyền thống đã có, không để chủ quan thỏa mãn đô thị biển trời, hải đảo, vùng sinh thái của Hội An vì cảnh trí ở đây vừa có sự sắp đặt của thiên nhiên và có cả bàn tay của con người trải qua nhiều thế hệ mới có được. Việc mở rộng đô thị cũng phải chú ý để không làm mất đi những nét hài hòa đã có, ngay cả việc phát triển dịch vụ ở khu vực biển cũng như xây dựng ở cù lao Chàm cũng phải chú ý điều này. Đừng để như thành phố Đà Lạt đã làm phai nhạt đi cái thơ mộng của Hồ Xuân Hương, cái đẹp trời cho của thác Cam – ly cái hồn nhiên và trong lành của thành phố du lịch cao nguyên.
Kết hợp một cách sáng tạo và hài hòa cả việc giữ gìn môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội, chất lượng du lịch của Hội An nâng cao thì khách sạn du lịch sẽ đến đông hơn, thu nhập về du lịch sẽ cao hơn, nhưng phải trên cơ sở không để môi trường du lịch bị ô nhiễm.
Giữ gìn, tôn tạo và phát triển di sản văn hóa Hội An cần phải có một cơ chế chủ động về ngân sách như thế nào để tạo điều kiện cho chính quyền địa phương thực hiện những nhiệm vụ trên.
Đây là vấn đề mà lãnh đạo và các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Nam cần sớm ban hành. Mặc khác, cần phải tranh thủ sự hỗ trợ của các ngành hữu quan ở Trung ương, các ổ chức tài trợ quốc tế… để bổ sung nguồn lực cho việc bảo vệ và phát huy nét đẹp và truyền thống của di sản văn hóa thế giới này.
Câu đối
Năm sáu năm tỏa ánh sao vàng, kết nghĩa Nước tình Nhà bền vạn thuở
Bảy mốt tuổi soi ván cờ đỏ, quyện lòng Dân ý Đảng sáng nghìn thu.
Mai Thúc Lân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001