Nhân viên hướng dẫn du lịch

Nghe nói có đoàn khách ngoại quốc sẽ ra thăm đảo cát Bà, tôi nài nỉ và công ty du lịch H, cho đi cùng. Con tàu du lịch khởi hành từ bến Bính, xuôi sông Cấm ra cửa Nam Triệu, rẽ trái, men theo vịnh Hạ Long vào vịnh Lan Hạ và cập đảo Cát Bà. Một hành trình đầy thú vị. Bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi được vào vịnh Hạ Long theo một luồng khác, từ Hải Phòng sang, chứ không phải từ Bãi Cháy ra. Vả lại, vịnh Lan Hạ, nơi có nhiều đảo lạ, kỳ thú chẳng kém gì Hạ Long, lại là nơi dân đang nuôi ngọc trai, đồi mồi, sẽ vô cùng hấp dẫn và lạ lẫm. Trưởng đoàn giới thiệu với chúng tôi hai hướng dẫn viên giỏi tiếng Hoa mới được “thuê” từ Hà Nội xuống. Đó là anh H và chị S, một người hiện đang công tác tại Việt Hán Nôm, một người là hướng dẫn viên du lịch lâu năm. Chà, đi với hai “chuyên gia” kỳ cựu như thế thì còn gì thú bằng, tha hồ mà tìm hiểu về non sông cẩm tú và lịch sử, phong tục vùng biển Đông Bắc. Tôi lắp một cuộn phim Kodak mới vào  máy và bấm lia lịa những gì đẹp trên đường đi. Sợ bỏ qua những địa danh lạ, tôi kè kè bên anh H và chị S, tranh thủ hỏi và ghi chép. Cột điện cao thế từ Hải Phòng ra đảo cát Bà sẽ vượt qua eo biển nào? Tôi hỏi H.

Tin thế giới

Úc: Ủy ban Du lịch (ATC) đã phát động một chiến dịch quảng cáo rầm rộ ở châu Á nhằm lôi kéo du khách châu Á đến thăm nước này trong thời gian tới. ATC sẽ chi khoảng 12,6 triệu USD để thực hiện chiến dịch quảng cáo này tại Malaysia, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc và Hồng Kông. Bộ trưởng Du lịch bang New South Wales, ông Bob Debus cho biết thành phố Sydney được tạp chí Conde Nast Traveler, tạp chí du lịch hàng đầu thế giới bầu chọn là thành phố hấp dẫn nhất thế giới năm 1998.

Myanma: Chính phủ Myanma vừa ra quyết định cho phép những du khách tới nước này qua các cửa khẩu biên giới đường bộ được đến thăm các khu du lịch sâu trong nội địa, kể cả thủ đô Yangon. Myanma hiện có 6 cửa khẩu biên giới tiếp giáp với Trung Quốc 4 cửa khẩu với Thái lan. Trước đây có gần 60% du khách nước ngoài đến Myanma qua những cửa khẩu này. Hiện nay, Myanma có 523 khách sạn với 14714 phòng, so với năm bắt đầu mở cửa – 1998 chỉ có 39 khách sạn với 1.240 phòng.

Hoàng Dạ Vũ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1998

Đi úc thì phải biết đánh bạc

Kinh doanh đánh bạc ở Úc là nghề hái ra tiền, nhưng đồng hành với các con số khổng lồ về lợi nhuận là nỗi đau của các cuộc hôn nhân tan vỡ, của sự khánh kiệt tài sản và những đứa con bị bỏ đói. Bà Judith Fuss, 55 tuổi, xông vào một văn phòng tín dụng, bịt mặt, vung vẩy túi xách khiến cho các nhân viên ở đó sợ phát khiếp vì nghĩ bà ta có súng, Và lấy đi 15.000 đô la Úc (9.500 USD). Bà Fuss bị bắt khi lặp lại hành động trên lần thứ hai, và phải nhận một án tù treo. Bà ta khai với cảnh sát khu vực Sydney rằng bà lấy liền để đánh bài bằng máy. Trong 4 năm bà Fuss thua bạc 80.000 đô la Úc cho kẻ cướp một tay này đã phải bán nhà trả nợ. Mới đây, một con bạc tên là Sung Eun Dark đã giết vợ và hai con rồi nhét vào vali. Qua điều tra của cảnh sát, được biết y đã đem cầm tài sản của vợ, rút sạch tiền trong tài khoản của hai con rồi giết hại cả gia đình và trốn sang Hàn Quốc, cùng với cô bồ mà y gặp gỡ ở sòng bạc Sydney. Hai trường hợp trên được các nhà xã hội học nêu ra những điển hình về nỗi ám ảnh của nạn cờ bạc đang quét qua nước Úc. Theo những số liệu do Tasmania Gam-ing Commission cung cấp, nước Úc đánh bạc gần 80 tỉ đô la Úc (khoảng 49 tỉ USD), tăng 10,6% so với năm trước và tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế 5 lần, 158.000 máy đánh bài xì trong các quán rượu và câu lạc bộ. Đó là chưa kể đến các máy đánh bài video ở các sòng bạc. Trong thập niên vừa qua số lượng các sòng bạc ở Úc từ một vài cái đã tăng lên 14 cái, to lớn và lộng lẫy ở thủ đô của 6 bang, ở thu đô Canberra và ở các điểm du lịch nổi tiếng như Gold Coat của Queensland. Lợi nhuận đổ về cho ngành công nghiệp này lên tới 10 tỷ đô la Úc, hàng năm nhà nước cũng thu được là 3,43 tỷ đô la úc tiền thuế. Nhưng không vì thế mà người ta càng nhiều các tổ chức chống lại cờ bạc. Căn cứ của họ là những chi phí xã hội vô cùng to lớn cho những thói quen này. Ngành y tế Úc cho biết các ca bệnh là con bạc đang tăng nhanh. Nguyên nhân là phiền muộn, muốn tự tử, muốn lạm dụng thuốc phiện ảo thất vọng… bên cạnh đó là các ca của người nhà con nghiện liên quan tới những cuộc đấu tranh trong gia đình về số tiền thua bạc.

Nguyên Hạnh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1998

Khu lưu niệm bác tôn điểm du lịch mới ở an giang

Sau 15 tháng thi công (khởi công ngày 21/05/1997). Đúng dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh Bác Tôn (20/08/1888 – 20/08/1998), khu lưu niệm thời niên thiếu của Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã khánh thành trong không khí long trọng, nô nức những tấm lòng của nhân dân hướng về Bác. Trong tổng thể diện tích là 60.000 m2 trên mảnh đất hiền hòa của ấp Mỹ An, xã Mỹ Hòa Hưng, thị xã Long Xuyên địa phương gọi cù lao Ông Hổ, nằm cặp bờ sông Hậu. Khu lưu niệm được hình thành với lối kiến trúc uy nghi, hoành tráng, in đậm sắc thái dân tộc được liên hoàn với những hạng mục chính xen kẽ những công viên cỏ xanh mượt, nhiều loại hoa và cây kiểng.

Ngôi nhà sàn lưu niệm thời niên thiếu: Đây là một ngôi nhà xưa, dáng chữ “Quốc”, nhà lợp ngón đại ống, vách gỗ dầu, cột gỗ tràm, ngắn 12 m, dài 13 m.  Ngôi nhà này do cụ Tôn Văn Đề, thân sinh của Bác cất vào năm 1887. Quanh ngôi nhà phía trước có hàng cây dăm bụt (bông lồng đèn), những bụi tre gai, cây ăn trái, đặc điểm của nông thôn Nam Bộ. Viếng nhà lưu niệm, du khách không chỉ được xem phác thảo về cuộc sống thời niên thiếu của Bác Tôn, một cuộc sống chất phác giản dị của người dân đồng bằng Nam Bộ, ngôi nhà kiểu “phòng lũ” của các tỉnh đầu nguồn. Đồng bằng sông Mê Kông. Ngôi nhà đã trải qua 4 lần trùng tu, nhưng vẫn giữ nguyên trạng ban đầu.

trang trí đẹp để thường xuyên phục vụ nhu cầu tham quan khu lưu niệm và thưởng ngoạn của du khách trên sông nước. Giờ đây, khu lưu niệm đã trở thành một điểm tham quan không thể thiếu trong sổ tay du lịch của du khách khi đến An Giang. Không những chỉ thăm viếng tưởng niệm, du khách còn được đưa đến vườn cây ăn trái, dạo quanh cù lao bằng xe ngựa, thưởng thức bữa cơm đặc sản cá lóc nướng trui, tôm nước ngọt, đong đưa chiếc võng để nghỉ trưa, tắm bãi cồn, ca nô đưa khách dạo quanh cù lao Mỹ Hòa Hưng rồi trở về điểm hẹn. Công ty Du lịch và Phát triển miền núi An Giang, địa chỉ luôn sẵn sàng phục vụ quý khách.

Lúc đó người ta dùng đồng để xây ba tầng trên cùng và đặt ở đó nhiều di vật cổ. Trước cây tháp cổ là vạc Phổ Minh nặng tới 1000 cân, là một trong những đại khí của Đại Việt, rất tiếc là những di vật này hiện nay không còn. Nhưng Tháp của phổ Minh vẫn là một di tích tiêu biểu cho kiến trúc Phật giáo Việt nam trong suốt những thế kỷ từ XIII đến XIV.

Đỗ Đình Dũng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1998

Hội an ngày về

Một thị xã nhỏ như Hội An, mà lạ thay mật độ khách du lịch quốc tế và trong nước lại đến đông không kém gì Huế, Đà Nẵng (1996) đón 130.000 khách quốc tế, 1997 tăng hơn 20% và năm 1998 này, dù thị trường khu vực gặp khó khăn, lượng khách đến Hội An vẫn không giảm bao nhiêu so với năm trước. Điều đáng nói là khách du lịch đông thế mà thời gian lưu trú của khách ở Hội An thuộc loại cao nhất miền Trung! Đến Hội An lần này tôi đã cố tìm hiểu và đã phát hiện ra rằng, sở dĩ du khách “mê” Hội An, ngoài phố cổ, còn thích thú những việc mà người Hội An đã công phu tạo nên để hòa nhập với phố cổ. Người Hội An bây giờ không “ăn” sẵn vào những gì ông cha để lại, mà rất biết làm ra những sản phẩm du lịch để tôn vinh thêm giá trị phố cổ của mình.

Ấn tượng nhất đối với tôi là cách “Nhà nước và nhân dân cùng làm du lịch” đang phát huy lợi thế. Các gia đình trong phố cổ đều có quyền đón khách lưu trú tại gia để nghiên cứu, tìm hiểu hoặc giải trí. Nhà thờ cổ tộc Trần vừa là một điểm du lịch phố cổ, vừa là nơi giới thiệu, kinh doanh nhiều loại đồ cổ phố Hội thương cảng xưa! Gia chủ vừa tự giới thiệu ý nghĩa của từng chi tiết kiến trúc ngôi nhà, vừa dẫn khách đi tham quan, cách bày biện, bố cục từng gian nhà và các phòng sưu tập đồ cổ. Khách lân la ở một ngôi nhà như thế hàng mấy tiếng đồng hồ. Có khi còn mua được những món đồ cổ mình ưng ý. Tại ngôi nhà cổ 41 đường Lê Lợi, ông Trần Quang Hiệp chủ nhà đã thiết lập một xưởng gồm các nghề thủ công cổ truyền Hội An như thêu thùa, chạm khắc mỹ nghệ, nuôi tằm, ươm tơ, kéo kén, dệt lụa, dệt thổ cẩm, dệt chiếu, may mặc… Khi vào tham quan tôi cứ ngỡ đây là cơ sở sản xuất giải quyết việc làm theo kiểu xóa đói giảm nghèo. Nhưng hỏi thì hóa ra không phải! Mục đích chính của ông Hiệp là trình diễn cách làm các nghề truyền thống của Quảng Nam, những nghề đã tạo ra những loại hàng hóa bản địa đã từng trao đổi, mua bán, xuất khẩu tại thương cảng Hội An xưa! Tất nhiên đã sản xuất thì có sản phẩm. Những loại đồ thêu, đồ chạm khắc tinh xảo, các loại thổ cẩm áo quần vải tơ tằm… Ở đây làm ngay trước mắt du khách có thể bán ngay làm quà lưu niệm, hoặc nhận đặt hàng theo yêu cầu của khách. Cách làm này đã làm cho khách vừa tò mò thích thú vừa thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu và mua sắm.

Ngô Minh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1998

Sự hài hước trong thi cử và học hành

Tính hài hước có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng tiếp thu mọi báo cáo và bài giảng của người nghe. Người ta nhận thấy rằng, sinh viên có nhiều cảm tình với các thầy giáo thông minh giảng bài có pha chút hóm hỉnh hơn so với các thầy giáo giảng bài khô khan. Vì họ cho rằng bài giảng vui nhộn giúp họ hiểu bài tốt. Và ngay cả tiếng cười có thể giúp sinh viên vượt qua kỳ thi một cách tự tin. Các nhà tâm lý học Trường Đại học tổng hợp New York đã làm cuộc thử nghiệm chứng minh cho giả thiết này. Trong một kỳ thi sinh viên, được chia thành 3 nhóm. Nhóm thứ nhất gồm những sinh viên rất hay hồi hộp, nhóm hai là những sinh viên ít lo lắng hơn, nhóm ba là nhóm sinh viên không sợ thi cử. Nhóm thứ nhất được nhận đề thi trong đó tất cả các câu hỏi được đưa ra với hình thức khôi hài. Nhóm thứ hai chỉ có một nửa số câu hỏi được khôi hài. Còn nhóm thứ 3 đề thi mang tính chất thuần lý thuyết. Kết quả cho thấy tất cả nhóm sinh viên 1 trả lời rất, trong khi đó nhiều sinh viên nhóm 3 bị trượt. Các nhà tâm lý cho rằng tính hài hước giúp  các sinh viên tập trung và chuẩn bị tốt cho câu trả lời.

Thế giới có bao nhiêu vàng?

Từ bao ngàn năm, con người luôn luôn bị vàng quyến rũ. Theo các nhà khoa học, rất khó mà đoán được đã có bao nhiêu vàng được nhân loại khai thác, nhưng đã có con số ước lượng là 150.000 tấn. Khoảng 1/3 số này đã bị mất mát, 1/3 đã biến dạng thành sản phẩm được chế tạo (nữ trang, vật mỹ nghệ…) và 1/3 được các quốc gia và tư nhân cất. Trước năm 1914 vàng chiếm đến 91% trữ lượng tiền tệ thế giới, sau đó luật trao đổi tiền, vàng được ban hành vào năm 1922. Sau Thế chiến 2 (1939 – 1945) Mỹ chiếm đến ¾ trữ lượng vàng trên thế giới. Hiện nay trữ lượng vàng chính thức của Mỹ vào khoảng 8.000 tấn, trên số 25.000 tấn (tương đương với giá trị 50% khối lượng tiền tệ thế giới) của toàn cầu. Đức có gần 3.000 tấn và Pháp là 2.500 tấn. Nhưng vì mỗi năm nhân loại vẫn tiếp tục sản xuất gần 2.000 tấn nên theo một ước lượng khác, trữ lượng vàng có thể đạt 100.000 tấn trên toàn cầu. Số vàng tư nhân được đánh giá rất quan trọng, nhưng giá trị hàng hóa của vàng đã không còn hấp dẫn như xưa. Hiện nay, sử dụng số lượng vàng nhiều nhất vẫn là công nghiệp nữ trang, vượt hẳn công nghiệp sản xuất tiền vàng và điện tử. Một số ngành công nghiệp khác, kể cả ngành nha khoa, cũng sử dụng một số lượng vàng đáng kể.

Tôn Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1998

Du lịch lên núi lửa mount bromo

Nói đến núi lửa là người ta thường nghĩ đến sự chết chóc, nạn hủy diệt con người và làng mạc của thiên nhiên. Người ta nhớ đến những tiếng nổ khủng khiếp và hàng triệu khối lửa lớn cuốn theo dòng lũ dung nham đỏ rực sôi cuộn gầm thét lao  về các khu vực dân cư, ngọn lửa chết chóc và dòng mắc ma nóng bỏng trùm lên khắp những gì chúng lướt qua. Những người dân đáng thương không kịp trở tay. Sau đó  là mây đen và bóng tối bao trùm toàn bộ khu vực. Người ta đã đo được sức mạnh công phá kinh hoàng của núi lửa mà chỉ là mấy cái núi con con ở đảo Krakatau, Indonesia đã gấp 10.000 lần quả bom nguyên tử ném xuống Hirôsima trong thế chiến II. Thế mà, những núi lửa đó đã không ngăn nổi nụ cười của người dân Indonesia. Alno Ponte, chàng hướng dẫn viên du lịch vẫn thản nhiên tuyên bố với nhóm du khách chúng tôi: “Vâng, đó quả là một cuộc chiến không cân sức giữa thiên nhiên và con người. Nhưng mọi vật luôn có khả năng hồi sinh. Chúng tôi sẽ xây dựng lại làng mạc khi lũ dung nham điên khùng ấy tắt thở. No Matter at all! (không có gì!)”. Phải! No matter at all! Và có lẽ vì thế mà mỗi ngày vẫn có hàng ngàn du khách đàng hoàng đi lên núi lửa Bromo tham quan, khám phá. Bromo là một núi lửa hùng vĩ nhất trong hàng chuỗi núi lửa của đảo quốc Indonesia nằm ở Java. Cách thành phố Javan của Surabaya 2 giờ đồng hồ theo đường bộ, Bromo trở thành một điểm du lịch cố định trong chương trình tour của du khách tới bờ biển Bali. Khác với hai núi lửa “anh em” của nó là Krakatoa và Merapi, núi lửa Bromo dường như đã ngủ yên trong vài thập kỷ qua. Bromo nổi tiếng vì vẻ đẹp riêng của nó hơn là vì những dòng dung nham. Du khách đến Bromo để uống nước khoáng nóng và chiêm ngưỡng “chàng khổng lồ đang ngủ yên” chiếu lên bầu trời những sắc hồng rực rỡ trong cảnh bình minh. Trèo lên miệng núi lửa Bromo khá dễ dàng, nhưng trước đó du khách phải vượt qua một bình nguyên mênh mông, được tạo thành bởi một ngọn núi lửa cực lớn. Cuộc hành trình thường bắt đầu từ ban đêm để có thể tới nơi đúng lúc bình minh lên. Du khách dậy sớm trước lúc mặt trời mọc, sắp yên cương chuẩn bị cho một ngày hành hương lên núi lửa. Đó là những người khách dũng cảm nhất. Họ ngủ dậy từ lúc ba giờ sáng, mặc ấm vì nhiệt độ giữa đêm và ngày chênh lệch nhau rất lớn do núi nằm ở vị trí cao 2000 mét so với mặt biển.

Bình Thúy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1998

Nguồn nhân lực cho khách sạn

Trở lại vấn đề con người, vấn đề lao động. Rõ ràng ở đây có sự khập khiễng giữa cung và cầu. Ngần ấy phòng với từng con người, tất yếu dẫn đến tỷ lệ nghịch giữa doanh số và thu nhập. Chỉ cần làm phép tính đơn giản đem chia 314 người với 115 phòng thì bình quân xấp xỉ 3 người phục vụ cho một phòng. Dĩ nhiên đây không phải chỉ có phục vụ phòng, nhưng dù có chia nhiều bộ phận khác thì số lao động trên vẫn là quá tải. Nhất là chẳng đâu xa, khi đem so sánh với 1 khách sạn Điện Lực ở TP. Hồ Chí Minh với 59 phòng chỉ có 26 người mà hoạt động có hiệu quả.

Và có lẽ cũng vì quá nôn nóng trước tình hình kinh doanh đang “trượt xuống”, cùng với việc 3/6 văn phòng bỏ không thuê, các tiệc cưới giảm, nhất là khâu ăn uống của tiệc cưới “chết hẳn” (Lời của ông Đỗ Hoài Châu, Chủ tịch Công đoàn khách sạn), cho nên khách sạn đã tìm cách mở thêm nhà hàng đặc sản mini, phòng hát karaoke, nhưng chưa được bao lâu thì lại bị đình chỉ do có nhiều dấu hiệu tiêu cực. Vậy là từ chỗ thừa lao động dẫn đến việc lúng túng trong công tác quản lý và điều hành. Vấn đề đặt ra lúc này cho các nhà quản lý khách sạn là không nên tự bằng lòng với những gì đã và đang có, mà phải nhanh chóng sắp xếp lại dây chuyền sản xuất, vừa bảo đảm kinh doanh khách sạn có hiệu quả, vừa đảm bảo cho con người lao động không mất việc làm? Đó là bài toán mà Ban giám đốc cùng với Công đoàn khách sạn phải lựa chọn lời giải, đặc biệt là trong bối cảnh hiện tại khi Tổng Công ty Điện Lực Việt Nam đã chọn khách sạn Điện Lực là một trong số đơn vị chuyển sang cổ phần hóa.

Trước mắt khách sạn đang triển khai việc phân loại, chọc lọc đối tượng lao động trên cơ sở các bộ phận tự bình xét, công đoàn niêm yếu danh sách, nhận đơn của CBCNV. Sau đó Ban giám đốc cùng Công đoàn sẽ xem xét, điều chỉnh (chia thành nhiều đợt) rồi mới trình lên cấp trên quyết định. Ai đi, ai ở, đó là câu hỏi mà những người lao động ở khách sạn Điện Lực đang chờ kết quả ở sự phán quyết công minh của các cấp lãnh đạo ngành chủ quản. Chúng tôi đã có dịp tiếp xúc này công việc của họ vẫn diễn ra bình thường, nhưng bên trong thâm tâm họ còn phấp phỏng, băn khoăn cho tương lai của mình.

Trần Tiến – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1998

“Anamandara” điểm đến hấp dẫn du khách

Khu du lịch Anamandara có lối trang trí nội thất độc đáo, đậm đà màu sắc Á Đông. Từ cổng chính, du khách được đón vào nhà Khánh tiết, nhà Khánh tiết là một sảnh đường lớn, bài trí theo lối cổ, có sập ngụ, tủ chè, tràng kỷ, đôi câu đối, liễn thờ và các đồ dùng dân dã Việt Nam. Chính những vật dụng đơn sơ này đã kích thích trí tò mò của du khách về bản sắc văn hóa của một dân tộc.

Bên trái nhà Khánh tiết là khu vực lễ tân, tại đây có trưng bày bức hoành phi khắc chữ Hán chép lời văn của vua Duy Tân, bên phải là cửa hàng bán đồ lưu niệm. Đồ lưu niệm là những chế tác đặc thù của người Việt, từ chiếc nón quai thao truyền thống của hội Lim Kinh Bắc đến chiếc nón nỏ của người thượng đất Cao Nguyên. Gian hàng lưu niệm đặc biệt này đã từng thu hút sự chú tâm của khách du lịch từ một vuông lụa tơ tằm đến một tấm thổ cẩm, từ một ống sáo trúc đến chiếc mặt nạ truyền thống.

Tất cả cấu trúc của các ngôi nhà trong khu du lịch đều được thiết kế hệ thống kéo cột và mái lợp giống với một nếp nhà của người Việt Nam. Mỗi xà nhà đều có trang trí hoa văn cùng các họa tiết trang trí truyền thống của dân tộc.

Khu nhà và bar rượu cũng được chú ý trong từng chi tiết trang trí. Những nhà thiết kế đã lặn lội từ những vùng rừng núi hẻo lánh đến những làng quê xa xôi để sưu tầm những vật dụng của người Việt Nam nhằm tạo cho du khách cảm hứng về dấu ấn của một đời sống nông nghiệp đặc thù. Hầu hết các du khách đến đây đều cảm thấy bị cuốn hút bởi những chiếc nơm, cái đó, cái dậm, những dụng cụ đánh bắt tôm cá. Họ thực sự cảm thấy thú vị và hài lòng về những cách trang trí bình dị và đặc sắc này.

Một trong những điều đặc biệt tạo được sự thích thú cho khách du lịch là hệ thống phòng ngủ vừa tiện nghi, vừa giản dị. Nằm trong căn phòng này, du khách có cảm giác đang được sống trong một căn nhà của người Việt Nam, tọa lạc trong một khuôn viên thoáng mát, yên tĩnh. Tất cả mọi vật dụng trang trí từ giường ngủ, bàn ghế, chăn nệm đều sử dụng nguyên liệu trong nước. Các nhà thiết kế đã cố gắng sử dụng tối đa các loại vải dệt bằng lụa tơ tằm Việt Nam để may chăn nệm, vỏ gối và rèm cửa. Tất cả những thiết bị này đều tạo được cảm giác thoải mái và sự thích thú cho du khách.

Trần Chấn Uy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1998

Ý kiến các chuyên gia

Giám đốc marketing của Vidotour Indochina, ông Nguyễn Tuệ cho biết việc giải quyết cấp VISA tại cửa khẩu sẽ giúp Việt Nam bán được nhiều vé hơn cho những khách đăng ký muộn và những người muốn thay đổi nơi đến vì lý do nào đó. Điều này cũng giúp cho những khách mà nước họ không có văn phòng đại diện để cấp VISA nhập cảnh vào Việt Nam dễ dàng thuận tiện hơn.

Xin VISA nhập cảnh có nghĩa là người khách phải gửi hộ chiếu đi để xin dấu vào và điều này sẽ gây nhiều khó khăn nếu người khách đó ra vào Việt Nam thường xuyên.

Tổng giám đốc Furama Resort Danang, ông Paul Stoll cho hay giới thương mại đang hy vọng phía Chính phủ Việt Nam sớm có trả lời cho những cải tiến này. “Tôi biết Tổng cục Du lịch Việt Nam đã trình Chính phủ để xin nới lỏng các thủ tục nhập cảnh và giảm giá cấp VISA. Chúng ta hy vọng sớm sẽ có câu trả lời lạc quan”.

Nhưng Giám đốc marketing Exotissimo Travel, bà Beatrice Baron lại tin chắc rằng bất cứ sự thay đổi nhỏ nào trong chính sách của Chính phủ Việt Nam đều phải mất một thời gian sau mới trở thành hiện thực được.

Bà Baron nói: “Về vấn đề VISA tôi lo sợ rằng trong năm nay mọi việc cũng sẽ không có được sự tiến triển nào cả cho dù phía Chính phủ Việt Nam dành ưu tiên chính cho việc điều chỉnh các thủ tục cấp VISA được dễ dàng hơn. Dĩ nhiên việc này sẽ làm thay đổi căn bản hình ảnh của Việt Nam nơi được biết đến với những thủ tục tốn kém và mất nhiều thời gian”.

Ông Stool cho hay mọi cố gắng nhằm phát động chiến dịch marketing như năm du lịch dự kiến sẽ đi liền với việc miễn VISA. “Không nghi ngờ gì trong việc xúc tiến quá trình trên đưa các đối tác của ngành công nghiệp du lịch ngồi chung trong cùng một bàn đàm phán, tạo ra một cuộc thảo luận có tính khách quan mà chắc chắn sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển của ngành công nghiệp du lịch ở Việt Nam. Vào thời điểm của việc xúc tiến cấp VISA nhập cảnh tại cửa khẩu hoặc thậm chí là thời gian trước đó tôi tin rằng sẽ không còn chỉ là sự giới hạn VISA trong các nước thành viên của ASEAN mà thôi, mà VISA sẽ sẵn sàng được cấp cho các du khách tới Việt Nam qua con đường từ các thành phố chính như Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh”.

Bà Baron cho rằng vào năm 2000 Việt Nam chắc chắn sẽ có sự thúc đẩy tới lĩnh vực du lịch. Bà tin rằng hiện tại Việt Nam có thể cung cấp đủ điều kiện ăn ở và các hoạt động vui chơi giải trí, những cái được coi là đích quan trọng nhất đối với du lịch.

Trần Quang Hưng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1998

Mại dâm những nẻo đường sa ngã

Theo ý kiến của bà Nguyễn Thị Huệ, Cục trưởng cục phòng chống tệ nạn xã hội. Sau 5 năm thực hiện nghị quyết 05/CP về ngăn chặn tệ nạn mại dâm, các ngành, các cấp đã triển khai mạnh mẽ và đồng bộ các biện pháp. Đã triệt phá 7.397 ổ mại dâm, bắt 6.297 chủ chứa và môi giới, tiến hành xét xử, 2.645 vụ gồm 3.701 bị cáo trong đó phạt tù 3.000 bị cáo. Tuy nhiên, tệ nạn mại dâm hiện nay đang diễn biến hết sức phức tạp, nghiệm trọng và không bình thường. Kinh doanh mại dâm hiện nay đã trở thành một “nghề” mang lại lợi nhuận cao nên chúng tìm mọi cách ngụy trang để đối phó với các cơ quan pháp luật, các thủ đoạn mà chúng thường dùng là núp dưới dạng dịch vụ nhà hàng, vũ trường, mát – xa hoặc phục vụ tại nhà. Nghiêm trọng hơn là tệ nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em làm gái mại dâm có chiều hướng gia tăng ở nhiều địa phương trong cả nước. Số liệu khảo sát 28 tỉnh, thành phố của Bộ công an cho thấy, trong hai năm 95 và 96 đã khám phá 197 vụ tổ chức buôn bán phụ nữ và trẻ em vì mục đích mại dâm, bắt 410 đối tượng là chủ chứa, buôn bán, môi giới và 456 nạn nhân, trong đó có 61,9% bán ra nước ngoài. Nạn nhân dưới 16 tuổi chiếm 7,2 % từ 16 đến 18 tuổi chiếm 14,6%. Có lẽ với chừng ấy con số cũng đủ để chúng ta khẳng định nạn mại dâm đã vượt quá mức báo động. Các ngành các cấp cần phải phối hợp chặt chẽ hơn nữa ra tay chặn đứng tệ nạn này. Cho đến nay  không biết đã có bao nhiêu bài báo, bao nhiêu người viết về nạn mại dâm. Tôi đã đến thăm một  số trại cải tạo, tâm sự với khá nhiều cô gái lầm lỡ, tuy được trả lời với nhiều hoàn cảnh khác nhau nhưng các cô gái đến chốn “lầu xanh” có thể phân theo các nhóm sau đây: Nhóm thứ nhất: Gồm các cô gái ở nông thôn do hoàn cảnh khó khăn, lười biếng trong lao động, muốn ra chốn đô thành để kiếm công ăn việc làm. Khi ra đến thành thị một số trong những cô gái này đã rơi vào tay các tú bà ngay tại bến tàu, bến xe. Một số khác may mắn hơn được lọt vào  mắt xanh của các ông chủ nhà hàng, khách sạn. Dưới tác động của sự phồn hoa đô thị, các cô đã không làm chủ được mình, một số khác do hoàn cảnh công việc bắt buộc và rồi các cô cũng lần lượt vào nghề.

Hoàng Chung – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1998