Thế kỷ XV nhiều cường quốc Tây Âu đi tìm con đường biển tới Ấn Độ và Trung Quốc.

Đại Bác Hồ nhà bắn phá Calicut mở đầu giai đoạn lịch sử đen tối của Ấn Độ
Ngày 20 tháng 5-1498, đoàn thám hiểm của Vát đơ Gama cắm neo ở Cailcut và người dân Ấn Độ niềm nở tiếp đón đoàn. Vào thời kỳ này, Cailcut là một thương cảng lớn trên thế giới. Qua những buổi tiếp xúc ban đầu, người Bồ Đào Nha thấy người dân Cailcut cũng nói được ít nhiều tiếp Ả Rập để giao dịch chào hỏi khách lạ.
Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ hữu nghị trong những ngày đầu dần nhường chỗ cho sự hiềm khích. Tại Cảng Cailcut có những thương nhân Ả Rập không hài lòng về sự có mặt của người Bồ Đào Nha vì như vậy họ sẽ mất độc quyền trung gian đưa hàng về châu u. Khi thấy những người Bồ Đào Nha mua hương liệu, ho tức tối, xúi bẩy, ngăn trở không cho người Ấn bán hàng cho người Bồ. Họ nói với dân địa phương rằng người Bồ Đào Nha là kẻ cướp và họ tới đây để phá hoại việc buôn bán giữa người Ả Rập và Ấn Độ.
Chính quyền địa phương ra lệnh bắt giữ những người Bồ mua hương liệu. Lập tức Vastco đơ Gama chống lại bằng cách bắt giữ một vài nhân vật địa phương quan trọng làm con tin, đến khi chính quyền địa phương thả những người Bồ thì Vastco đơ Gama vẫn giữ lại người Ấn và chạy trốn. Chính quyền địa phương cho thuyền đuổi theo. Vastco đơ Gama đã chào tạm biệt họ bằng một loạt đại bác.
Thành phố và cảng Cailcut từ đó trở thành nơi qua lại của những tàu buôn, tàu chiến của nhiều nước châu u. Sau đó vào những năm thuộc thế kỷ trở đi người Bồ, người Anh, người Pháp đã nhiều lần bắn phá, cướp bốc thành phố, giết hại đàn bà trẻ con, đánh đắm các thuyền bè ở hải cảng.
Như vậy, ngày 20-5-1498, ngày mà Vastco đơ Gama cắm neo ở Cailcut cũng là một ngày bất hạnh đối với lịch sử Ấn Độ.
Tháng 8/1499, đoàn thám hiểm của Vastco Đơ Gama đã trở về Bồ Đào Nha, kết thúc cuộc hành trình với hơn một trăm thủy thủ đã hy sinh. Hơn 50 thủy thủ trong đoàn khi trở về nước đã được nhà vua và dân Bồ Đào Nha đón tiếp rất nồng hậu.
Cuộc phát kiến của người Bồ Đào Nha tìm ra con đường đi tới Ấn Độ là một biến cố, một bước ngoặt lớn trong lịch sử buôn bán thế giới. Sau khi tìm ra con đường biển này, người Bồ Đào Nha giữ độc quyền nó trong 18 năm liền.
Hỏi- Đáp sức khỏe
Hỏi: Tại sao khi đi tàu, xe, máy bay, lại xảy ra hiện tượng say sóng? Chữa say sóng bằng cách nào?
Trong cơ thể chúng ta, sự thăng bằng được quyết định bởi một bộ phận nằm trong lỗ tai gọi là điền đình. Khi tiền đình bị rối loạn, chúng ta sẽ có cảm giác chóng mặt, đôi khi khó thở đồng thời kèm theo nôn ói vì lúc ấy, thần kinh điều khiển sự co bóp của bao tử cũng bị kích thích.
Điều này thường xảy ra khi ta đi tàu-nhất là tàu biển, đi xe, đi máy bay. Thật khó chịu khi du lịch mà lại bị say. Thay vì hưởng thụ cái vui, lại phải chịu khổ.
Dân gian gọi đó là hiện tượng say sóng, còn Y học gọi là rối loạn tiền đình tạm thời. Hiện tượng rối loạn này thường thì sẽ hết trong khoảng từ nửa giờ đến một giờ khi ra khỏi tàu xe.
Đông y chữa chứng say sóng bằng cách ngậm một lát gừng tươi trong miệng suốt cuộc hành trình, còn Tây y thì nửa giờ trước khi khởi hành, uống một viên Nautamine.
Chú ý rằng nếu bị chứng say sóng thì không nên ăn no trước lúc lên tàu, xe vì khi bao tử chứa đầy thức ăm sẽ dễ bị nôn ói hơn.
Hỏi: Đi du lịch mà lỡ bị tiêu chảy thì phải làm sao?
Một trong những vấn đề mà khách du lịch thường mắc phải nhất, chính là các bệnh về hệ tiêu hóa- trong đó bệnh tiêu chảy đứng hàng đầu. Điều này cũng dễ hiểu vì thức ăn, nước uống không được sạch, nhất là những loại thức ăn bán rong. Tâm lý người bán phần lớn nghĩ rằng khách chỉ đến một lần, nên họ không cần chú trọng về vấn đề vệ sinh cho lắm.
Khi bị tiêu chảy bạn sẽ có hiện tượng nôn mửa dữ dội, đi tiêu trong một giờ có thể lên đến 10 lần. Người mệt lả, ra mồ hôi, da xanh tái, tim mạch, huyết áp lắm lúc không đo được và có thể chết.
Trong trường hợp này, bạn không nên uống thuốc để cầm ngay vì nôn mửa chính là hiện tượng tự đào thải chất độc của cơ thể. Nếu chỗ bạn ở gần một tiệm thuốc Tây thì hãy mua một gói Oresol, pha với một lít nước và uống càng nhiều càng tốt hoặc lấy 8 muỗng cà phê rồi cũng pha chung với một lít nước. Dung dịch này sẽ giúp bạn không bị mất nước và không bị mất nước và không trụy tim mạch.
Sau khi hiện tượng nôn ói đã hết hoặc giảm bớt, bạn có thể cầm tiêu chảy bằng hai viên Imodium.
Hỏi: Đi du lịch có người thường mất ngủ vì lạ nhà? Trường hợp này nên uống thuốc ngủ hay không?
Một số người không cứ gì đi du lịch, hễ ngủ ở một chỗ không phải là nhà mình thì lại chẳng thể nào ngủ được- hoặc chỉ ngủ chập chờn. Điều này xuất phát từ trạng thái tâm lý, chẳng hạn như chỗ ngủ đèn sáng quá, nhiều tiếng ồn quá, hoặc giả có người xưa nay quen nằm chiếu, bỗng dưng ngủ giường nệm thì cũng không nhắm mắt được.
Thương thì hiện tượng này sẽ tự hết trong các chuyến lữ hành dài ngày, cộng với việc di chuyển, thăm thú, vui chơi, cơ thể sẽ mỏi mệt hơn khi ở nhà nên giấc ngủ sẽ đến dễ dàng hơn.
Nhưng nếu nó kéo dài, thì bạn có thể uống một viên Rotunda nửa giờ trước lúc lên giường. Đây là loại thuốc an thần điều chế từ thảo mộc nên nó không có tác dụng phụ, và nhất là không làm cho quen thuốc, sáng hôm sau tỉnh dậy, cơ thể không bị lừ đừ.
Lê Trọng Túc – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001

Truyện thiếu nhi nước ngoài “Những ma lực vô hình”

Hiện nay, dại qua các hiệu sách hay những sàn báo, sẽ không còn thấy sự vắng bóng của sách thiếu nhi như cách đây 5-7 năm. Chỉ có điều, hầu hết là truyện nước ngoài.
Nếu như trước kia, việc ấn hành truyện thiếu nhi chỉ có nhà xuất bản Kim Đồng độc quyền thì nay, nhiều nhà xuất bản cũng vào cuộc. Do truyện nước ngoài đem lại nhiều lợi nhuận nên các nhà xuất bản đã đầu tư in ấn rất công phu, bìa nhều màu, nhiều tranh minh họa. Nếu như thế thì chả có gì đáng nói. Đằng này, ngay cả những trang bìa đã không có nét dịu dàng, trong sáng hay tinh nghịch, vui nhộn như những cuốn truyện thiếu nhi của những 70-80, mà tất cả đều một màu sắc sặc sỡ với hình ảnh đáng sợ của những siêu nhân, người khổng lồ, rồng phun lửa… Tranh minh họa thì bùm…chíu, hự…hự, bộp…binh, rồi những khuôn mặt hình người gớm ghiếc, những động tác xoạc cảng, tung trưởng, song phi, phát hỏa…mà ngay cả người lớn trông cũng thấy khiếp. Còn nội dung: hãy thử giở cuốn “Thủy thủ mặt trăng”, bạn sẽ choáng ngợp trước những cụm từ liên tục lặp đi lặp lại: “ta sẽ giết ngươi”, “ta sẽ trừng phạt ngươi nhân danh thủ mặt trăng…”, rồi chuyện yêu đương nhảm nhí của bọn trẻ con. Thậm chí, “Những truyền kỳ bí của Stine” mà nhà xuất bản Kim Đồng vừa ấn hành còn miêu tả nhiều cảnh ma quái rùng rợn. Còn trong “Tứ quái TTKG” thì: “Đôi môi ả đánh son đỏ chót, trông như hai trái cà chua chín, mái tóc vàng hoe như thể vừa bị trẻ con bĩnh vào”. Trong “Siêu quậy Tesppi”, ta hãy nghe cha con Teppi đối thoại với nhau: “Mày biến đi đâu từ sáng tới giờ hả?- Tôi đi ra phố, mà ba ăn cái gì vậy? Thơm quá! – Tao ăn cái gì kệ cha tao!” Đặc biệt, cụm từ “cậu điên à?” thường xuyên được sử dụng trong những tập truyện này.
Chị Ngô Phương Liên công tác tại Trung tâm sách thiếu nhi – Tổng công ty phát hành sách cho biết: “Những cuốn truyện nước ngoài bán rất chạy, đầu bảng phải kể đến chú mèo máy Nhật Bản Đô-rê-mon, sau đến “Thám tử lừng danh Conan”…Còn truyện Việt Nam rất ế ẩm, có chăng chỉ bán chạy những sách thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh như “Thiên thần nhỏ của tôi”, “Kính vạn hoa”, “Bồ câu không đưa thư”,…
Hiện nay, các tập truyện trong “Tủ sách vàng” của nhà xuất bản Kim Đồng hầu hết như vắng bóng trong cửa hàng cho thuê và sạp bán truyện thiếu nhi. Sách cổ tích chẳng có ma nào đọc nên không ai muốn bán. Còn bố mẹ trẻ thì thờ ơ, chỉ biết cho tiền con mua sách, chẳng cần biết nó sẽ đọc gì. Cuối cùng chỉ trẻ nhỏ sẽ “hứng đủ” sự chạy theo cơ chế này. Chúng sẽ thấm và rất nhanh những gì người lớn đưa cho.
Tâm hồn trẻ em như tờ giấy trắng nên sự định hướng suy nghĩ, hoài bão cho chúng hết sức quan trọng. Cùng với sự giáo dục của gia đình và nhà trường, sách báo đóng vai trò lớn trong việc nuôi dưỡng tinh thần. Vì thế, không chỉ các bậc cha mẹ cần phải quản lí con em mình trong việc định hướng chúng đọc gì mà ở đây, vấn đề đặt ra cho các cây bút viết cho thiếu nhi trong cả nước và các nhà xuất bản là, rất cần có những tác phẩm phù hợp và có chất lượng cho trẻ em. Và việc kiểm duyệt nội dung sách thiếu nhi trước khi xuất bản là hết sức cần thiết để lập lại sự nề nếp trong hoạt động này.
Nepal-thu hút du khách bằng văn hóa làng mạc
Để định hướng luồng khách đến những điểm du lịch mới của Nepal, cơ quan du lịch Nepal (NTB) đã bắt đầu một chiến dịch tiếp thị hướng khách du lịch quốc tế đến các ngôi làng Nepal. Điều này rất phù hợp và được sự ủng hộ của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc.
Chiến dịch này tập trung vào đối tượng du khách trong độ tuổi 20 đến 30. Lãnh đạo NTB, ông Pradeep Raj Pandey nói: “Khách du lịch thường hình dung Nepal là một quốc gia đầy núi non với đất đai khô cằn và chỉ thích hợp cho các du khách trẻ trung và ưa thích mạo hiểm. Chúng tôi muốn thay đổi suy nghĩ của du khách bằng loại hình du lịch thám hiểm nhẹ và du lịch khám phá văn hóa làng mạc. Chúng tôi muốn tạo điều kiện để du khách có thể ở lại trong làng và hòa vào cuộc sống hàng ngày của dân làng. Để thực hiện chiến dịch, chúng tôi phải giáo dục dân làng về tầm quan trọng của vấn đề vệ sinh và thái độ hiếu khách”.
Cho đến giờ, mới chỉ có một ngôi làng là Sirbari làm được việc này. Nhưng với sự hỗ trợ của UNDP trong việc phát triển nhận thức của cộng đồng, đề án sẽ được nhận ra thêm ba ngôi làng nữa.
Theo ông Pandey thì “hiệu quả đề án chưa cao vì dân làng không thể đón tiếp số lớn khách trong cùng một thời gian và có những ngôi làng phải mất bốn giờ đi bộ mới đến được”. NTB dự kiến sẽ tiếp tục quảng cáo tại các hộ chợ du lịch quốc tế và sử dụng khoản vay 40 triệu USD từ ngân hàng châu Á để xây dựng kết cấu hạ tầng cần thiết dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2000. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến thăm Nepal.
Làng Sirubari hiện giờ đã có thêm nguồn thu nhập từ du khách và điều này khuyến khích họ duy trì nền văn hóa truyền thống. Năm ngoái, Nepal đón được 162.000 du khách quốc tế. Ông Pandey hy vọng rằng con số này sẽ tăng lên 500.000 trong năm nay.
Sơn Hà -Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001

Du lịch giúp mình thành công hơn

Mỗi khi thấy chị xuất hiện trên sân khấu hay truyền hình là khán giả lại ồ lên: à, cái bà chua ngoa đanh đá, ghen như sư tử Hà Đông đây rồi. Quả là chị đã để lại trong công chúng những ấn tượng khó quên. Người đó chính là Nghệ sĩ ưu tú Minh Hằng – diễn viên đoàn kịch I của Nhà hát Tuổi trẻ.
Chào chị! Chị nghĩ gì về xuất của mình ở trường quay cũng như trên sàn diễn?
Nghệ sĩ ưu tú Minh Hằng: Nhận xét về diễn xuất của mình á? Thôi, xin được nhường cho khán giả. Chỉ có điều, trên sàn diễn cũng như ở trường quay, mình luôn sống với nhân vật một cách trung thành nhất, nghĩa là mình luôn thở cùng nhân vật và đồng cảm với nhân vật trong cùng một thời gian.
Những nhân vật mà chị đảm nhiệm luôn là những người đàn bà có cá tính mạnh mẽ. Điều đó có gần với con người thật của chị ngoài đời?
Nghệ sĩ ưu tú Minh Hằng: Mình thường được giao các vai diễn có tính cách dữ dội, bạo liệt, gian ác, hay ghen, đôi khi còn lẳng lơ (Hiền trong phim “Ghen”, Cám trong vở kịch “Tấm Cám”, Hằng trong vở kịch “Vờ ly dị hóa thật”…) nhưng cũng có khi được thể hiện là một cô gái thôn quê chất phát, thật thà, một bà mẹ thương con hết mực (nhân vật con trong bộ phim “Bố và con”, mẹ hoa hậu Trang Kiều Phượng trong vở kịch “Người yêu tôi là hoa hậu”…). Nếu tất cả đều giống Hằng ngoài đời thì… chết, sân khấu là sân khấu, cuộc đời là cuộc đời chứ. Nếu trên sân khấu cũng giống ngoài đời thì liệu ai còn có đủ can đảm đóng những vai phản diện nữa!
Khi lưu diễn trong nước cũng như ở nước bạn, có khi nào chị thấy mình đang là một lữ khách?
Nghệ sĩ ưu tú Minh Hằng: Mình rất thích đi du lịch. Diễn ở bất cứ nơi nào nếu có thời gian rỗi là mình đi ngắm phong cảnh, đắm mình vào thiên nhiên ngay. Đi du lịch giúp mình mở mang kiến thức và điều đó rất quan trọng với sự thành công trong mỗi vai diễn.
Là phụ nữ, chị có thích nữ công gia chánh?
Nghệ sĩ ưu tú Minh Hằng: Công việc của mình hiện nay rất bận rộn. Chỉ những việc: đóng kịch, lồng tiếng, đóng phim… cũng đã chiếm hết thời gian rồi. Còn nữ công gia chánh ư! Mình cũng thích, nhưng không có thời gian. Thôi chỉ dám nhận là nữ công… tránh gia thôi.
Xin cảm ơn chị! Chúc chị thành công hơn nữa trên con đường sự nghiệp.
Họp báo về festival Huế 2002
Ngày 17/10/2001, Bộ Văn hóa Thông tin, Tổng cục Du lịch và Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế tổ chức họp báo về Festival Huế 2002. Festival Huế 2002 sẽ có 9 nước tham gia gồm Pháp, Thái Lan, Lào, Campuchia, Philippin, Inđônêxia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản với nhiều chương trình nghệ thuật đặc sắc. Các sản phẩm du lịch sẽ phong phú hơn như du lịch nhà vườn, tìm hiểu đời sống người dân Huế, thư giãn, chữa bệnh. Trong thời gian diễn ra Festival còn có trại sáng tác điêu khắc quốc tế với chủ đề “Ấn tượng Huế – Việt Nam 2002”. Đã có 52 nhà điêu khắc quốc tế của 26 nước đăng ký tham dự. Hiện nay, công tác chuẩn bị về chương trình nghệ thuật, hạ tầng cơ sở cũng như sự phối hợp với các bộ ngành khác như hàng không, đường sắt, bưu chính viễn thông đang được khẩn trương triển khai để phục vụ Festival Huế 2002 cũng như xây dựng Huế trở thành trung tâm văn hóa – du lịch của Việt Nam. Một Website về Festival Huế 2002 đã được xây dựng với mục đích đem đến nhiều thông tin cập nhật cho khách du lịch trong thời gian đồng thời đẩy mạnh quảng bá du lịch về Huế.
Jal giảm chuyến bay sang Hoa Kỳ
Sau sự kiện 11/9 hãng hàng không lớn nhất Nhật Bản Japan Airlines đã và sẽ tiếp tục cắt giảm trong mỗi tuần 34 chuyến bay đến Hoa Kỳ. Ngược lại, Japan Airlines đang xem xét tăng tần suất các chuyến bay trong khu vực như chiến đến Hàn Quốc và Việt Nam… Chính phủ Nhật Bản đã đồng ý tăng giá trị bảo hiểm cho ngành hàng không lên mức khoảng 2 tỷ Euro sau khi các hãng bảo hiểm giảm mạnh các khoản chi bảo hiểm do nguyên nhân chiến tranh và khủng bố.
Nâng cấp đường du lịch Nam Phước – Mỹ Sơn
Tỉnh Quảng Nam vừa khởi công nâng cấp đường Nam Phước – Trà Kiệu – Mỹ Sơn dài hơn 27km. Gói thầu 1 thi công đoạn từ thị trấn Nam Phước đến Trà Kiệu dài 3,8km, mặt đường thảm bê tông nhựa nóng 10,5m. Các gói thầu còn lại sẽ thi công đoạn từ Trà Kiệu đi Mỹ Sơn dài hơn 23km, mặt đường thảm bê tông nhựa 6m. Toàn tuyến có 2 cầu lớn là cầu Chìm và cầu Trà Kiệu. Trong đó cầu Chìm dài 264m, với 8 nhịp, được thi công bằng dầm bê tông cốt thép dự ứng lực. Công ty Quản lý và xây dựng công trình giao thông Quảng Nam đang huy động lực lượng để hoàn thành đoạn đường trong 6 tháng. Các gói thầu tiếp theo sẽ tiếp tục đấu thầu để đến 2/9/2002 sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng. Việc nâng cấp tuyến đường có ý nghĩa lớn đối với việc phát triển kinh tế – xã hội của huyện và tạo thuận lợi cho du khách tham quan Di sản thế giới Mỹ Sơn, hình thành trục du lịch văn hóa – sinh thái: Mỹ Sơn – Trà Kiệu – Hội An – Cù Lao Chàm.
Thu Thảo – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 42(207)2001

Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch “khởi sắc và hứa hẹn”

Du lịch Việt Nam được đánh giá là cất cánh từ năm 1994, với lần đầu tiên, Việt Nam đã đón hàng triệu lượt khách trong vòng một năm. Số lượng đó tăng lên hơn 30 phần trăm vào năm 1995, nhưng vào những năm sau thì lại giảm đi và số khách du lịch quay lại không nhiều.
Theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài, bên cạnh các nguyên nhân cơ bản như cơ sở hạ tầng yếu kém, việc thiếu vắng những bản sắc văn hóa tự nhiên cũng như sự nghèo nàn trong hệ thống dịch vụ, thì việc thiếu một đội ngũ phục vụ chuyên nghiệp trong ngành du lịch đã làm cho Việt Nam trở nên kém hấp dẫn. Vì thế vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho ngành theo tiêu chuẩn quốc tế đã trở nên cấp bách.
Trong khuôn khổ dự án “Hợp tác phát triển đào tạo khách sạn Việt Nam – Luxembourg” bốn trường đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho ngành (ở Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu) đã nhận được tài trợ của chính phủ Luxembourg để cải tạo và xây mới trường học, lắp đặt trang thiết bị hiện đại, đổi mới phong cách giảng dạy và đặc biệt là để soạn thảo bộ sách giáo khoa chuyên ngành khách sạn và du lịch đưa vào giảng dạy trên toàn quốc. “Mục đích của chương trình là đào tạo để sinh viên có việc làm và đảm bảo cung cấp đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu của khách sạn,” ông Vincent Gibbons, cố vấn kỹ thuật Viện phát triển Lux cho biết.
Theo ông Nguyễn Thanh Phong, hiệu trưởng trường THNV Du lịch và Khách sạn Thành phố Hồ Chí Minh (SHT), thị trường luôn kết hợp chặt chẽ với các khách sạn. Khách sạn cần đến đâu, trường đào tạo đến đó. Hầu hết học sinh ra trường đều có việc làm, thậm chí sinh viên đang thực tập cũng được các cơ sở “đặt hàng” trước: Quản lý nhà hàng có đến 90 phần trăm sinh viên sau khi ra trường có việc làm và làm đúng chuyên ngành học.
Sự hợp tác giữa Luxembourg và Việt Nam đã giúp trường SHT có những bước chuyển mình đáng kể. Với đội ngũ giáo viên chuyên ngành được đào tạo, bồi dưỡng chính quy tại các quốc gia có trình độ công nghệ du lịch tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là chương trình đào tạo với sách giáo khoa chuyên ngành hoàn chỉnh đưa vào giảng dạy, trường được đánh giá là có sự phát triển toàn diện và sâu sắc với quy mô và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến.
Giai đoạn tới của dự án hợp tác với Luxembourg sẽ có cả chương trình đào tạo lại và cấp bằng cho những người đang làm việc trong ngành khách sạn nhưng thiếu đào tạo cơ bản. Chương trình đào tạo hướng dẫn viên du lịch và đặc biệt chương trình quản lý cơ bản dành cho doanh nghiệp tư nhân trong ngành du lịch đang được lên kế hoạch và xem xét.
Theo lời nhận xét của ông Gibbons: “Trong vòng 5 năm tới, Việt Nam sẽ là một trong các điểm du lịch lớn của thế giới. Việt Nam có nguồn vốn rất quí: đấy là con người. Người Việt Nam thích học và sẵn sàng làm công việc dịch vụ mà ở các nước khác nhiều người không muốn làm. Đấy là điểm mạnh của ngành du lịch Việt Nam.”
Phụ nữ và hát ru
Trên thế giới dân tộc nào cũng có những làn điệu hát ru truyền thống trong kho tàng dân ca của mình. Ở Việt Nam chẳng những người Kinh mà các dân tộc ít người khác cũng đều có những bài hát ru thật đặc sắc và độc đáo.
Ta hãy nghe những buổi trưa hè ở vùng quê Việt Nam, hòa với tiếng tre kẽo kẹt, tiếng lá lao xao, tiếng gà tục tác, tiếng ve râm ran, văng vẳng đâu đây có tiếng ru dìu dặt, nồng nàn: “Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao/ Ông ơi ông vớt tôi nào…”
Người ta thường lấy bất cứ bài ca dao lục bát nào để ru. Ở đây, âm điệu được lặp đi lặ lại bằng những chuỗi hư từ “à ơi…”, “ầu ơ…”. Ru còn được nâng cao bằng những làn điệu dân ca khắp các vùng đất nước. Lúc này lời ca không còn là những câu ca dao lục bát nữa mà phong phú hơn và âm điệu cũng hoàn chỉnh hơn như những ca khúc (như bài Ru con Nam bộ là một thí dụ tiêu biểu).
Về sau, rất nhiều nhạc sĩ đã sáng tác ra những ca khúc mới mang âm điệu ru trên cơ sở chất liệu của những khúc ru dân gian khắp các vùng đất nước như: Mẹ yêu con của Nguyễn Văn Tý, Từ trên đỉnh núi của Nguyên Nhung, Khúc ru mùa xuân của Nguyễn Đình San, Ru con mùa đông của Đặng Hữu Phúc v.v…
Dù là hát ru theo hình thức nào thì đặc điểm chung của hát ru là tạo nên những âm điệu êm ả, thanh bình với tiết tấu chậm rãi, dàn trải để đưa trẻ thơ nhanh chóng chìm vào giấc ngủ nồng nàn. Người hát càng có ý thức trong việc ru trẻ, nghĩa là càng bộc lộ tình cảm trong giọng hát thì đứa trẻ càng dễ dàng đến với giấc ngủ và ngủ càng sâu.
Nói đến hát ru là nói đến lòng bao dung, nhân hậu, đến khát vọng được sống hòa bình, hạnh phúc, đến lòng mong mỏi cho trẻ thơ được yên ấm trong sự chở che của cuộc đời. Hát ru phải là lời hát được cất lên rất tự nhiên khi chúng ta thực sự ấp iu trẻ thơ, cầu mong cho chúng bình yên, mau lớn. Như vậy, bên cạnh việc bồi dưỡng tốt đẹp cho tâm hồn trẻ thơ phát triển, bản thân những người mẹ khi cất tiếng ru con cũng tức là tự nâng cao tâm hồn mình lên.
Thật đáng tiếng, những người mẹ trẻ ngày nay gần như không còn biết đến việc ru con. Thay cho sự vỗ về, nựng nịu, thay cho hát ru, rất nhiều người mẹ muốn con mau ngủ để được việc mình đã tìm mọi cách rung, lắc, có khi bực dọc còn quát tháo, thậm chí cả việc đánh cho con khóc để chúng mệt quá, sẽ phải ngủ. Đó là việc làm chẳng những phản khoa học mà còn phản nhân cách, tâm hồn. Có phải vì như thế mà bây giờ tuy trẻ em có thể thông minh, láu lỉnh hơn xưa nhưng sự ngoan ngoãn, nết na, lễ phép, giàu lòng nhân ái thì không bằng ngày trước? Có liên quan gì chăng đến vấn đề hát ru chúng ta đang bàn?
Huy Du – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 42(207)2001

Còn nhiều điều kiện để cất cánh

Du lịch Hà Nội còn nhiều điều kiện để cất cánh
Chủ đề chính của hội thảo về phát triển du lịch thường gồm hai vấn đề: Tiềm năng và giải pháp. Những phần lớn có bài tham luận tập trung nhiều tới tiềm năng hơn là nêu ra các giải pháp cụ thể. Hội thảo “Du lịch Hà Nội – tiềm năng, giải quyết để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” vừa được tổ chức nhân liên hoan du lịch Hà Nội 2001 cũng không nằm ngoài thông lệ ấy, dù đã có nét mới là đi sâu vào các vấn đề cụ thể, mang tính gọi mở hơn.
Nói đến tiềm năng du lịch của Hà Nội, trước hết phải nói đến nét văn hóa đặc trưng, giàu bản sắc đã tạo nên cốt cách một Hà Nội nghìn năm văn hiến. Đề cấp tới vấn đề này, giáo sư sử học Lê Văn Lan đã giới thiệu chi tiết về “Đoan môn”, một phần di tích của thành cổ Hà Nội và cho răng” Di tích lịch sử quan trọng này mang một ý nghĩa và giá trị đặc biệt, rất Hà Nội”. Giáo sư Lê Văn Lan cũng đánh giá rằng, khai thác du lịch từ tiềm năng này còn chậm, và chỗ yếu là chúng ta chưa nhận ra và nhấn mạnh đủ độ vào những trọng điểm .
Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc đã gợi sâu tới giải pháp phát triển du lịch Hà Nội theo góc nhìn riêng: “Để hấp dẫn du khách, cần tôn tạo các di tích theo chiều hướng xây dựng bổ sung cho di tích, vừa tăng giá trị thẩm mỹ, tạo dựng một không gia mới”.
Từ quan điểm nhìn nhận của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, Phó Tổng cục trưởng tổng cục du lịch Phạm Từ nêu ý kiến:Trước sự chuyển biến tích cực về lượng khách du lịch đang hướng tới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Du lịch Việt Nam đang cũng có cơ hội và thách thức lớn . Do đó du lịch Hà Nội cần chuẩn bị tốt những điều kiện cần thiết để nắm bắt thời cơ. Trước mắt, khắc phục hậu quả khách du lịch đến bằng đường hàng không đang giảm mạnh, bằng cách tập trung khai thác vào bằng đường bộ từ Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan. Mỗi thị trường cần có phương pháp quảng bá phù hợp…
Từ lâu, du lịch vẫn được coi là ngành kinh tế tổng hợp Vì thế, Giám đốc Sở du lịch Hà Nội Nguyễn Quang Lân nhấn mạnh tới sự phối hợp đa ngành trong công tác phát triển du lịch khi cho rằng, thành quả của ngành du lịch có tới 60 – 70% công lao đóng góp của các ngành khác nhất là hàng không như trong hai cái cánh cùng đưa du lịch bay cao.
Tuy nhiên được cải tiến nhưng thủ tục xuất nhập cảnh luôn được xem là rào cản sự gia tăng lượng khách. Vì vậy, vẫn còn những lời ca thán từ các doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Ông Triệu Văn Thế, Cục trưởng cục xuất nhập cảnh , Bộ công an cho rằng, nếu các doanh nghiệp cho rằng, nếu các doanh nghiệp cho rằng, nếu các doanh nghiệp lữ hành làm không đúng, đủ những điều kiện cần thiết thì việc hoàn tất thủ tục cho khách chạm nhất chỉ trong 3 ngày. Vì các đơn vị làm sai nên phải mất thời gian hướng dẫn lại… Ông Thế còn cho biết, các công ty không nên làm thủ tục thông qua các đầu mối trung gian, vì thế sẽ kéo theo lệ phí phải chịu cao hơn. Còn mối trung gian nào, ở đâu… thì không thấy đề cập tới.
Rõ ràng, du lịch phát triển không chỉ dựa vào tiềm năng. Vấn đề quan trọng là tìm ra được những giải pháp biến tiềm năng đó thành hiệu quả thiết thực. Giải pháp đó cần thiết cho tất cả mọi lĩnh vực hoạt động từ quản lý, kinh doanh trong ngành đến sự chỉ đạo đồng bộ của Chính phủ để tạo sự phối hợp đa ngành, để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Du lịch thủ đô không nằm ngoài quy luật ấy.
Bùi Hỏa Tiễn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001

Chuyện mất và được

Việc tôn tạo di tích địa đạo Vịnh Mốc – Quảng Trị đang gây nên sự phản ứng nhiều chiều của khách du lịch và dư luận. Các báo đài ở địa phương và T.Ư đang lên tiếng báo động trước việc “bê tông hóa?” và “hiện đại hóa” có nguy cơ làm giảm giá trị di tích. Khách du lịch nước ngoài cho rằng: tôn tạo như vậy là các bạn đang hủy hoại một mảng lịch sử mà lẽ ra các bạn đáng tự hào về nó và “các bạn sẽ đánh mất chính mình”… tuy nhiên, người có trách nhiệm của ngành VHTT Quảng Trị, đồng thời là chủ dự án khẳng định: khách du lịch và nhà báo không hiểu được chuyên môn, không nắm được mục đích dự án là nhắm kéo dài tuổi thọ di tích. Nói theo kiểu: giá như mấy năm trước có cột gỗ cắm trên sông Bạch Đằng chống quân Nguyên nếu được bê tông hóa thì chắc chắn các thế hệ sau tha hồ mà chiêm ngưỡng và thán phục.
Thực chất cái mà gọi là chuyên môn đó là một “thứ thuốc trường sinh chăng?”. Bê tông hóa cốt thép cho một thứ đất đai ở vùng quê mà người dân bao đời nay đã đào những cái giếng khơi sâu hàng trăm mét để sinh hoạt và nhờ hàng trăm mét đường hầm sâu trong lòng đất để trụ vững, chiến thắng bom đạn của kẻ thù. Cái chuyên môn phi lý và phi lịch sử khi vừa được bê tông chống sập các cửa hầm lại vừa đào khoét ngay trên nóc hầm những ụ pháo, tạo thành những ao nước đọng, rồi thấm xuống hầm…?
Sự thể tôn tạo ở Đại đạo Vịnh Mốc đang trong hồi tranh cãi. Dù dao thì mọi chuyện cũng sẽ qua. Có đều, ngày nay đất nước ta hội nhập và quốc tế hoá mạnh mẽ, nhất cử nhất động đều được các nước quan tâm theo dõi. Thiết nghĩ: xem xét ý kiến chê khen của người ta về mình là một việc đáng làm. Do vậy, tôi đã cố công tìm về nơi người dân làng địa đạo để tìm hiểu và trao đổi. Điều đáng ngạc nhiên là những người dân nơi đây lại có một cách nghĩ rất lạc quan và đáng yêu. Theo họ, thì không thể nói: các bạn tự hủy hoại hay đánh mất mình được. (Nếu như ở đây cụm từ “các bạn” với nghĩa hàm chỉ chúng tôi, là nhân dân Việt Nam người làm nên lịch sử, trong đó việc sáng tạo ra những làng hầm chiến đấu độc nhất vô nhị này). Chúng tôi sẽ còn sáng tạo nên những giá trị tinh thần mới, đâu có chuyện hủy hoại hay đánh mất mình? Nếu như ngành VHTT tôn tạo mà địa đạo có hỏng thì chúng tôi sẽ có phương án đào địa đao mới nối thông đường hầm, bí mật kéo khách du lịch từ địa đạo ngành VHTT quản lý và tham gia địa đạo của chúng tôi. Thời kỳ chiến tranh ác liệt, chúng tôi phải đào địa đạo trong thời gian bí mật, gian khổ, chứ như ngày nay thì khỏe hơn. Không cần có tỷ bạc là làm được rồi. Có khi địa đạo còn đẹp hơn ấy chứ, cần chi phải tôn tạo. Một ý nghĩ thật ngộ nghĩnh và táo bạo. Họ còn nói thêm: chẳng có gì hỏng mất ở đây hết cả, có chăng còn được nữa ấy chứ, có dự án là có phần trăm. Việc bê tông hóa các công trình lộ thiên trên mặt đất nhìn mà chẳng thấy gì, huống hồ, bê tông hóa dưới lòng đất! Chắc mọi người còn nhớ vụ việc cách đây mấy năm, ngành Bảo tàng VHTT Thừa Thiên Huế đã lập dự án địa đạo giả để lấy tiền ngân sách, may sao sự vụ đã kịp phanh phui ngăn chặn.
Suy nghĩ của người dân làng địa đạo xung quanh việc “được” và “mất” về tôn tạo di tích địa đạo Vịnh Mốc quả là lạc quan. Mong rằng những ý kiến trên đây sớm được thông tin đến quý cơ quan, bạn đọc cả nước, đặng ai quan tâm đến việc bảo vệ di tích lịch sử Vịnh Mốc một di sản quốc gia đặc biệt vô giá, cùng xem xét.
Thư giãn
Phải có độ dừng.
Một anh chồng trẻ vốn ăn chơi trác tang, thường xuyên có mặt tại các tụ điểm tệ nạn xã hội. Chị vợ khuyên can mãi mà vẫn chứng nào tật ấy.
Một hôm, anh chồn nửa đùa nửa thật nói với vợ:
Làm trai cho đáng nên trai
SIDA cũng trải, ngang mai đã từng!
Không phải tay vừa, chị vợ chỉ thảng vào mặt chồng:
Ăn chơi phải có độ dừng.
Nếu không sẽ sớm vẫy vùng với… giun!
Thứ này gọi là canh à?
Trực ban nội vụ tiểu đoàn xuống kiểm tra bếp ăn của đơn vị. Anh thấy hai chiến sĩ nuôi quân khiêng nồi canh lớn đi qua. Trực ban chặn lại:
Các cậu dưng lại để tôi kiểm tra!
Một chiến sĩ nuôi quân nói:
Báo cáo trực ban, thứ này đồng chí không nên kiểm tra.
Không đươc! Tôi có nhiệm vụ kiểm tra tất cả.
Nói xong trực ban lấy muôi nếm thử, nhăn mặt, nhổ ngay ra đất:
Thứ này mà gọi là canh hả các cậu?
Báo cáo trực ban, đây là nồi canh thừa từ hôm qua, chúng tôi đang mang xuống trại chăn nuôi ạ!
Hồng Vân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 20 (185) 2001

Một cách thu hút được khách du lịch

Công viên Ninh Kiều tọa lạc tại bến Ninh Kiều – một địa danh nổi tiếng của Tây Đô xưa và Cần Thơ hôm nay đã từng đi vào thơ ca:
Cần Thơ có Bến Ninh Kiều
Có dòng sông đẹp với nhiều giai nhân
Và là một trong những điểm sinh hoạt văn hóa công cộng lý tưởng nhất ở TP Cần Thơ, nằm trên đường Hai Bà Trưng thuộc phường Tân An, TP Cần Thơ, mỗi ngày thu hút hàng trăm khách du lịch trong và ngoài nước… Du khách đến đây ngoài việc dạo chơi, giải trí, thư giản còn được phục vụ “miễn phí” một số chương trình truyền thanh, ca nhạc. Bởi tại đây, Công ty Công trình Đô thị TP Cần Thơ – đơn vị quản lý trực tiếp công viên đã lắp đặt gần 20 loa kim mini, bố trí khoa học, không gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, nhưng vẫn đảm bảo được độ thông tin đến người nghe. Thời lượng phát trung bình 4 giờ/ngày (buổi sáng: từ 5 giờ – 7 giờ, buổi tối: từ 19 – 21 giờ). Ngoài việc tiếp âm chương trình thời sự của Đài Truyền thanh TP Cần Thơ, còn có nội dung tuyên truyền giáo dục quy chế quản lý, bảo vệ công viên, nhắc nhở mọi người ý thức bảo vệ và giữ gìn vệ sinh, mỹ quan nơi công cộng… và phát các ca khúc hát về đất nước và con người Cần Thơ, Công ty Công trình Đô thị TP Cần Thơ đang có văn bản đề nghị UBND TP Cần Thơ và các cơ quan chức năng cho phép được tiếp âm thêm chương trình thời sự Đài Tiếng nói Việt Nam và đài Phát thanh Truyền hình TP Cần Thơ.
Đưa vào phục vụ nhân kỷ niệm 26 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975-30/4/2001), đến nay loại hình hoạt động này đã được đông đảo khách du lịch và người dân Cần thơ cổ vũ hưởng ứng. Được biết, đây là mô hình được Công ty Công trình Đô thị TP Cần Thơ tham khảo và học tập từ khu di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Hà Nội) về áp dụng thí điểm đầu tiên ở Công viên Ninh Kiều. Và sau khu di tích đền thờ Bác Tôn (tỉnh An Giang) thì Cần Thơ là tỉnh thứ hai ở khiu vực Đồng bằng Sông Cửu Long có được loại hình độc đáo này để phục vụ khách tham quan. Sắp tới, Công ty cũng sẽ tiến hành lắp đặt loại lao kim mini phục vụ khách ở Công viên Lưu Hữu Phước nằm ở trung tâm TP Cần Thơ.
Đưa loại hình truyền thông đại chúng vào phục vụ nhu cầu khách du lịch, tham quan ở những địa bàn sinh hoạt văn hóa công cộng là việc làm rất thiết thực. Bởi lẽ, mức đầu tư không quy mô, không tốn kém nhiều kinh phí, song mang lại tác dụng và hiệu quả xã hội rất lớn, góp phần xây dựng ý thức thực hiện nếp sống văn minh, lịch sự nơi công cộng và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa cho mọi người.
Người Việt Nam thứ hai được ghi danh vào đại từ điển âm nhạc thế giới
Nhà Nghiên cứu âm nhạc Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Thuyết Phong mới đây đã được ghi danh và vào cuốn Đại từ điển âm nhạc thế giới: The New Grovo. Ông là người thứ hai, sau Giáo sư Trần Văn Khê nhận được vinh dự này. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong sinh năm 1946, tại Vĩnh Long hiện làm việc tại Viện Đại học Kent (Mỹ). Ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ âm nhạc tại Viện Đại học Sorbonne (Pháp), sau đó đi thuyết giảng và trình diễn âm nhạc Việt Nam ở hơn 20 quốc gia trên thế giới từ năm 1993 – 1996. Ông cũng đã thực hiện nhiều chuyến nghiên cứu điền dã tại Việt Nam. Công trình này được công bố trong Bộ Từ điển Bách khoa m nhạc Garland (Mỹ) với hơn 44.000 từ. Đại từ điểnThe New Grovo được xuất bản tại Anh gồm 20 đại tập, mỗi đại tập dày hơn 1.000 trang.
Lễ trao bằng tốt nghiệp cho sinh viên khoa du lịch học
Ngày 17/7/2001, Khoa Du lịch học – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã tổ chức lễ trao bằng tốt nghiệp cho 204 sinh viên K42. Được biết, đây là khóa có số lượng sinh viên đông và chất lượng nhất từ khi thành lập khoa đến nay. Trong số 204 bằng được trao có 2 bằng đạt loại giỏi và 42 bằng đạt loại khá.
Dỡ bỏ di tích kiến trúc gỗ cổ nhất Đà Lạt
Ngày 17/7/2001, hai ngôi biệt thự gỗ cổ, là công trình kiến trúc xây dựng đầu tiên cách đây hơn 100 năm ở Đà Lạt đã bị dỡ bỏ. Hai ngôi biệt thự này được xem là nơi hình thành những ý tưởng về “một đô thị lãng mạn trên cao nguyên Lang Bian”; là nơi ở và làm việc của những nhà nghiên cứu, thám hiểm, những công chức Pháp quy hoạch đô thị của chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương, trong đó có bác sĩ A.Yersin, người có công khai sinh ra Đà Lạt. Về việc dỡ bỏ này, ông Hồ Mộng, Phó chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng cho biết: “Hai ngôi biệt thự này không được công nhận là di tích văn hóa, đang trong tình trạng mục nát, lại nằm trong vùng quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nên Ủy ban nhân dân tỉnh mới quyết định dỡ bỏ. Hiện tại, Ủy ban nhân dân tỉnh đang khuyến khích việc xây dựng nhà gỗ theo kiến trúc cổ để thay thế những ngôi nhà cổ bị hư hỏng nặng”.
Thúy Bình – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(181)2001

Nghị định về kinh doanh lữ hành – Phần 3

Doanh nghiệp lữ hành quốc tế có các nghĩa vụ sau:
Chấp hành, phổ biến và hướng dẫn viên du lịch tuân thủ pháp luật và các quy định của nhà nước Việt Nam về an ninh trật tự, an toàn xã hội, về bảo vệ môi trường, bản sắc văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Có biện pháp đảm bảo an toàn về sức khỏe, tài sản và tính mạng của khách du lịch.
Công khai giá và các điều kiện thực hiện chương trình du lịch, dịch vụ du lịch, đảm bảo các dịch vụ cung cấp cho khách đúng số lượng và chất lượng như đã quảng cáo.
Thông báo về thời điểm bắt đầu hoạt động kinh doanh cho cơ quan quản lý du lịch cấp tỉnh, thành phố.
Tuyên truyền quảng bá về du lịch Việt Nam.
Chỉ được sử dụng hướng dẫn viên du lịch đã cấp thẻ để hướng dẫn khách du lịch.
Quản lý hướng dẫn viên du lịch, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho hướng dẫn viên du lịch của doanh nghiệp.
Không được cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng tư cách pháp nhân, tên doanh nghiệp của mình để hoạt động kinh doanh du lịch.
Thực hiện các nghĩa vụ theo quy đinh của pháp luật.
Điều 14: Hồ sơ đề nghị cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch
Hồ sơ đề nghị cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch gồm:
Đơn đề nghị cấp thẻ.
Sơ yếu lý lịch có xác nhận của UBND phường, xã nơi cư trú, hoặc cơ quan nơi công tác.
Bản sao có công chứng.
Bằng cử nhân và chứng chỉ bồi dưỡng về hướng dẫn viên du lịch
Bằng cử nhân ngoại ngữ hoặc chứng chỉ ngoại ngữ du lịch
Giấy khám sức khoẻ và ảnh.
Điều 15: Thủ tục cấp thẻ hướng dẫn viên
Người có đủ điều kiên quy định tại điều 13 của Nghị định này nộp, hồ sơ đề nghị cấp thẻ đến cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch có thẩm quyền.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan quản lý nhà nuớc về du lịch có trách nhiệm xem xét và cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch, trường hợp từ chối cấp thẻ, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch có thẩm quyền phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do đến người xin cấp thẻ.
Tổng cục du lịch uỷ quyền cho các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện cấp thử hướng dẫn viên du lịch.
Điều 16: Đổi, cấp lại, thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch.
Trường hợp đổi cấp lại thẻ hướng dẫn viên du lịch:
Trường hợp thẻ hư hỏng hoặc bị mất, hướng dẫn viên du lịch phải làm lại hồ sơ gửi đề nghị đổi, cấp lại thẻ.
Hồ sơ đề nghị đổi, cấp lại bao gồm:
Đơn đề nghị;
Hai ảnh 3 x 4;
Thẻ cũ đối với trường hợp đổi thẻ, hoặc xác nhận với cơ quan công an đối với trường hợp bị mất thẻ.
Thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch.
Hướng dẫn viên bị thu hồi thẻ nếu vi phạm một trong các trường hợp bị mất thẻ.
Vi phạm khoản 1 hoặc khoản 2 điều 12.
Vi phạm các khoản từ 3 – 8 Điều 12.
Khi bị thu hồi thẻ, hướng dẫn viên du lịch chỉ được xem xét để cấp lại sau 6 tháng kể từ ngày thẻ bị thu hồi. Hồ sơ và các thủ tục đề nghị cấp thẻ áp dụng theo quy định tại Điều 14 và Điều 15 của Nghị định này.
Chương IV: Quản lý nhà nước về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn và vận chuyển khách du lịch.
Điều 17: Quản lý nhà nước về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn và vận chuyển khách du lịch.
Tổng cục du lịch thực hiện việc quản lý nhà nước kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên du lịch, đề xuất với chĩnh phủ các cơ chế chính sách về du lịch, ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lữ hành, hướng dẫn viên du lịch, cung cấp thông tin về du lịch, phối hợp với các Bộ ngành hướng dẫn các địa phương thực hiện quản lý nhà nước về du lịch, kiểm tra xử lý quy phạm theo quy định của pháp luật.
Tổng cục du lịch công bố công khai các điều kiện và các thủ tục cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế để doanh nghiệp có căn cứ xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình du lịch và đăng ký kinh doanh.
Tổng cục du lịch chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật hiện hành, kể cả rút giấy ủy quyền cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch.
Tổng cục du lịch chủ trì cùng với Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa – Thông tin quy định điều kiện và cơ sở đào tạo có thẩm quyền cấp chứng nhận bồi dưỡng về hướng dẫn viên du lịch, chứng chỉ ngoại ngữ du lịch quy định tại khoản 3 khoản Điều 13 của Nghị định này.
Bộ Giao thông vận tải chủ trì phối hợp với Tổng cục du lịch và các ngành địa phương có liên quan đến hướng dẫn cụ thể về tiêu chuẩn và điều kiện với phương tiện người điều khiển phương tiện vận chuyển khách du lịch.
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc quản lý hoạt động kinh doanh lữ hành, hành nghề hướng dẫn, vận chuyển khách du lịch trên địa bàn, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật trên địa bàn.
Quang Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Nghị định về kinh doanh lữ hành – Phần 2

Điều 11: Quyền và nghĩa vụ của các hướng dẫn viên du lịch.
Hướng dẫn viên có các quyền sau:
Hướng dẫn viên du lịch theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng đã ký với doanh nghiệp lữ hành.
Tham gia hiệp hộ nghề nghiệp.
Hướng dẫn viên du lịch theo các chương trình du lịch trong và ngoài nước.
Nhận lương thù lao theo hợp đồng được đơn vị sử dụng
Tham gia thi tuyển, công nhân cấp bậc nghề nghiệp của hướng dẫn viên du lịch.
Các quyền khác theo quy định của pháp luật
Hướng dẫn viên có các nghĩa vụ sau:
Tuân thủ và hướng dẫn viên du lịch tuân thủ pháp luật Việt Nam, nội quy, quy chế nơi đến tham quan du lịch và tôn trọng phong tục tập quán của địa phương.
Hướng dẫn khách tham quan du lịch theo đúng chương trình, có thái độ văn minh, tận tình và chu đáo với khách.
Có trách nhiệm đối với việc bảo đảm an toàn, tính mạng, tài sản của khách du lịch.
Thông tin về chuyến đi cho khách du lịch và các quyền lợi hợp pháp khác của khách du lịch.
Đeo thẻ hướng dẫn viên du lịch khi làm nhiệm vụ.
Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 12: Những điều hướng dẫn viên không được làm
Hướng dẫn viên không được.
Lợi dụng hoạt động lữ hành, cung cấp những thông tin làm phương tiện đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Cho người khác mượn thẻ hướng dẫn viên
Có những hành vi, lời nói gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh, thuần phong mỹ tục của Việt Nam
Đưa khách du lịch đến khu vực cấm
Thay đổi chương trình du lịch thông báo cho khách mà không có sự đồng ý của khách.
Kiếm lợi bất chính đối với khách du lịch, nài ép khách du lịch mua hàng hóa, dịch vụ.
Tùy tiện cắt giảm các tiêu chuẩn, dịch vụ của khách du lịch.
Phân biệt đối xử với khách du lịch.
Điều 13: Cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch
Người có đủ điều kiện sau đây được cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch
Có quốc tịch Việt Nam , thường trú tại Việt Nam, có đủ năng lực hành vi dân sự
Không mắc bệnh truyền nhiễm, không sử dụng các chất gây nghiện.
Có bằng cử nhân trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng hướng dẫn viên du lịch do cơ sở đào tạo có thẩm quyền cấp.
Có bằng cử nhân ngoại ngữ hoặc chứng chỉ ngoại ngữ du lịch do cơ sở đào tạo có thẩm quyền.
Ngày 5/6/2001, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ban hành Nghị định số 27/2001/ NĐ-CP về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên du lịch. Để phục cụ quản lý nhà nước trong hoạt động kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên du lịch theo Nghị định số 27/2001/NĐ-CP, báo du lịch xin đăng toàn văn nội dung Nghị định này.
Điều 6: Điều kiện kinh doanh lữ hành quốc tế
Có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế
Ký quỹ 250 triệu đồng Việt Nam
Đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật
Có ít nhất 3 hướng dẫn viên du lịch được cấp thẻ
Điều 7: Cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế gồm
Đơn đề nghị cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế.
Bản sao hợp pháp các giấy tờ quy định tại điều 6 của Nghị định chính phủ.
Thủ tục cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế gồm:
Doanh nghiệp gửi một hồ sơ đề nghị cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế dưới đây gọi tắt là hồ sơ đến cơ quan quản lý du lịch của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nhiệp đóng trụ sở chính.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do doanh nghiệp dân đến, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải hoàn thành việc thẩm định hồ sơ và gửi văn bản về đề nghị kèm theo hồ sơ đầy đủ đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, cấp giấy phép. Trường hợp không đủ tiêu chuẩn xem xét, cấp giấy phép thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo văn bản nêu rõ lý do cho doanh nghiệp đồng thời gửi báo cáo về Tổng cục du lịch.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của cơ quan tiếp nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền về việc cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế cho doanh nghiệp. Trường hợp từ chối cấp phép, phải thông báo bằng văn bản rõ lý do cho doanh nghiệp biết.
Tổng cục du lịch công bố thủ tục cấp giấy phép theo hướng đơn giản, thuận tiện không gây phiền hà, cản trở sự hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và thực hiện việc cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế.
Điều 9: Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp lữ hành quốc tế.
Doanh nghiệp lữ hành quốc tế có các quyền như sau:
Xây dựng, quảng bá, bán và tổ chức thực hiện chương trình du lịch
Lập chi nhánh, văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật;
Tham gia các câu lạc bộ, các hiệp hội nghề nghiệp;
Tiến hành các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch;
Làm thủ tục xin xét duyệt nhân sự về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh cho khu du lịch với các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền.
Các quyền khác theo quy định của pháp luật;
Quang Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Nghị định về kinh doanh lữ hành – Phần 1

Nghị định về kinh doanh lữ hành hướng dẫn viên du lịch
Chương I: Những quy định chung
Điều 1: Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này quy định về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên du lịch.
Nghị định này áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân người Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế của tổ chức, cá nhân người nước ngoài hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên du lịch, trừ trường hợp pháp luật và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có quy định khác.
Điều 2: Trong nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Viêt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam.
Chương trình du lịch là lịch trình được định trước của chuyến đi du lịch do các doanh nghiệp lữ hành tổ chức, trong đó xác định thời gian chuyến đi, nơi đến du lịch, các điểm dừng chân, dịch vụ lưu trú, vận chuyển, các dịch vụ khác và giá bán chương trình.
Kinh doanh lữ hành là việc xây dựng bán tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nhằm mục đích sinh lời.
Hướng dẫn viên du lịch là người hướng dẫn khách theo chương trình du lịch và được thanh toán cho dịch vụ hướng dẫn.
Hướng dẫn viên du lịch không bao gồm: thuyết minh viên tại chỗ, người các cơ quan, tổ chức được cử đi công tác cùng khách là người nước ngoài.
Chương II: Kinh doanh lữ hành.
Điều 3: Kinh doanh lữ hành.
Tổ chức, cá nhân kinh doanh lữ hành kinh doanh du lịch lữ hành phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và cam kết thực hiện đầy đủ các điều kiện quy định nghị định này.
Việc thành lập doanh nghiệp lữ hành, đăng ký kinh doanh, bổ sung chức năng ngành kinh doanh lữ hành thực hiện theo Luật Doanh nghiệp, Liên Hợp tác xã, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 4: Điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa.
Các phương án kinh doanh du lịch
Ký quỹ 50 triệu đồng Việt Nam
Đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật
Điều 5: Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp lữ hành nội đia
Doanh nghiệp lữ hành nội địa có các quyền sau:
Xây dưng, quảng cáo, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch nội địa, khách du lịch là người Việt Nam cư trú ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch.
Lập chi nhánh, văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật
Tham gia các câu lạc bộ, các hiệp hội nghề nghiệp;
Tiến hành các hoạt động xúc tiến, quản bá du lịch theo đúng chức năng, quyền hạn và phạm vi kinh doanh của du lịch.
Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp lữ hành nội địa có các nghĩa vụ sau:
Chấp hành, phổ biến và hướng dẫn khách du lịch thủ pháp luật Việt Nam, các quy định của nhà nước và an ninh và trật tự, an toàn xã hội, về bảo vệ môi trường, bản sắc văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Có biện pháp đảm bảo an toàn về sức khỏe, tính mạng và tài sản của khách du lịch.
Công khai giá và các điều kiện thực hiện chương trình du lịch, dịch vụ du lịch, đảm bảo các dịch vụ cung cấp cho khách đúng số lượng và chất lượng như đã quảng cáo.
Thông báo về thời điểm bắt đầu hoạt động kinh doanh cho cơ quan quản lý du lịch cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Không được cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng tư cách pháp nhân, tên dooanh nghiệp của mình để hoạt động kinh doanh du lịch.
Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 9: Quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệ lữ hành quốc tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, được phép kinh doanh lữ hành theo giấy phép docơ quan Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền cấp, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của Nghị định này và các quyền và nghĩa vụ quy định trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản pháp luật liên quan.
Chương III: Hướng dẫn viên du lịch
Điều 10: Hành nghề hướng dẫn viên du lịch
Những người đủ tiêu chuẩn theo quy định của Nghị định này sẽ được xem xét để cấp hướng dẫn viên du lịch. Chỉ những người đã được cấp thẻ mới được hành nghề hướng dẫn viên du lịch đối với khách du lịch quốc tế. Hướng dẫn viên du lịch chỉ được hành nghề hướng dẫn viên du lịch khi đang làm việc ở một doanh nghiệp kinh doanh lữ hành.
Quang Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001